Lục Châu Học
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
MỘT MẢNG VĂN HỌC
BỊ BỎ QUÊN, BỎ QUA
Nguyễn Văn Trung
Những ai hiểu biết ít
nhiều về văn học Việt Nam thời hiện
đại có lẽ ngạc nhiên khi nghe nói đến
văn học bằng quốc ngữ ở miền Nam
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,
khoảng 1865 đến 1930, và thốt ra: Ủa, có
thực sao? V́ cho đến nay trong những sách báo viết
về văn học sử mà chúng tôi đọc
được, hầu hết đều chỉ nói
phớt qua hai người: Trương Vĩnh Kư, Huỳnh
Tịnh Của, bỏ qua Trương Minh Kư, ba
người có sinh hoạt văn học vào những năm
1875..., sau đó nói đến Đông Hồ và Hồ
Biểu Chánh. Họa lắm mới có người nhắc
đến tên ông Nguyễn Chánh Sắt. Có thế thôi.
Vậy có một sự kiện là: mảng văn học
này bị bỏ quên v́ không biết hay bị bỏ qua v́
bị phủ nhận. Do đó, nói tới thời kỳ
này, trong tất cả các mặt sinh hoạt văn học:
dịch chữ Hán, chữ Nôm, Pháp văn ra quốc ngữ,
biên khảo văn học, phong tục, lịch sử, khoa
học, sách giáo khoa, sáng tác thơ, văn xuôi, đặc
biệt các thể văn tiểu thuyết, theo lối
phương Tây v.v... trên báo chí, sách biên khảo cũng như
ở lớp học, chúng ta chỉ được nghe nói
đến những tên: Nguyễn Bá Học, Phạm Duy
Tốn, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đỗ
Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn
Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Bùi Kỷ,
Trần Trọng Kim, Hoàng Ngọc Phách v.v... cụ thể là
những người cộng tác với "Đông
Dương tạp chí" và "Nam Phong". Thực ra
chỉ hai tờ báo này được biết đến
nhiều hơn cả hoặc được đề cao
hay bị đả kích.
Dưới đây chúng tôi xin
giới thiệu một số những chứng từ bày
tỏ sự kiện mảng văn học kể trên
ở miền Nam bị bỏ quên.
a. Những tác giả gốc
Bắc, Trung viết về văn học tại miền
Bắc:
Ba người có thể coi là
ảnh hưởng chính trong việc tạo ra lối nh́n
bỏ quên mảng văn học này.
DƯƠNG QUẢNG HÀM: Trong Việt Nam văn
học sử yếu (1), chương IV "Văn
xuôi mới của ta, như chương ba đă nói, sở
dĩ thành lập được một phần lớn
nhờ báo chí. Trong các nhà viết báo có công lúc buổi
đầu phải kể đến Nguyễn Văn
Vĩnh và ông Phạm Quỳnh" (trang 414).
Về văn dịch,
Dương Quảng Hàm viết: "Dịch các tác phẩm
về loại cổ điển. Khi người
nước ta đă biết trọng quốc văn và
muốn lấy quốc văn làm lợi khí để
truyền bá học thuật, th́ các nhà cựu học
dịch các bài cổ văn (Phan Kế Bính trong Đông Dương
Tạp chí và các sách Kinh truyện của Tàu (bản dịch
Kinh Thi), quyển thứ nhất của các ông Nguyễn
Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn và Đặng
Đức Tô, Hà Nội, Nghiên Hàm ấn quán 1924; bản Trung
Dung của hai ông Hà Tứ Vi và Nguyễn Văn Dang; các nhà
Hán học lại dịch các thơ văn và sách vở
viết bằng chữ Nho của các cụ ta ngày xưa
(bản dịch Đại Nam liệt truyện của Phan
Kế Bính D.D.T.C... đồng thời, các nhà Tây học
cũng dịch các đoản văn và các tiểu
thuyết kịch bản thuộc về nền văn
cổ điển của nước Pháp, các ông Phạm Duy
Tốn, Nguyễn Văn Tố trong D.D.T.C. Nguyễn Văn
Vĩnh trong bộ Âu Tây tư tưởng; Phạm
Quỳnh trong N.P.T.C.".
Trong Chương 7, nói về
các văn gia hiện đại, ông cũng chỉ giới
thiệu các tác giả miền Bắc trừ Đông
Hồ.
Khuynh hướng về
học thuật: Nguyễn Bá Học, Phan Kế Bính,
Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến, Lê
Dư Sở Cuồng, Trần Trọng Kim, Ôn Như Nguyễn
Văn Ngọc.
Khuynh hướng lăng mạn:
Tương Phố, Hoàng Ngọc Phách trong quyển Tố
Tâm, Đông Hồ.
Khuynh hướng xă hội:
các nhà văn Tự lực văn đoàn.
Khuynh hướng tả
thực: các nhà văn ngoài nhóm Tự lực văn đoàn
như: Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Vũ Trọng Phụng,
Tam Lang v.v... (449-452).
VŨ NGỌC PHAN: Trong bộ "Nhà văn
hiện đại" (nhà in Tân Dân, Hà Nội - 1942).
Quyển nhất: những nhà văn hồi mới có
chữ quốc ngữ, tác giả chỉ nói đến
Trương Vĩnh Kư, bỏ qua Huỳnh Tịnh Của,
Trương Minh Kư, rồi giới thiệu các tác giả
viết trong Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong (Phan
Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Bá Học,
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn
Trọng Thuật...) và Đông Hồ, Tương Phố.
"Quốc văn bắt
đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa
mỹ, dồi dào, và chú trọng về tư tưởng,
là công các nhà biên tập hai tờ tạp chí ở Bắc Hà:
Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí".
- Nói về thể văn
truyện ngắn theo lối Âu Tây, Vũ Ngọc Phan
khẳng định Phạm Duy Tốn là người
đi trước nhất:
"Nhưng người ta
cũng không thể quên ông là người đă viết
truyện ngắn theo lối Âu Tây đi trước
nhất. Như vậy người ta cũng có thể nói:
Phạm Duy Tốn là nhà tiểu thuyết đi vào
đường mới trước nhất và những
truyện ngắn của ông là thứ văn chương
đă đánh dấu một quăng đường văn
học của nước nhà". (trang 141).
- C̣n Tố Tâm của
Hoàng Ngọc Phách cũng là cuốn tiểu thuyết
đầu tiên được chú ư.
"Tố Tâm là một
quyển truyện rất văn hoa, kết cấu cũng
khá và đă ra đời vào một thời mà tiểu
thuyết sáng tác c̣n thấp kém, quốc văn c̣n trong
thời kỳ phôi thai. Bởi thế cho nên Tố Tâm là
quyển tiểu thuyết đầu tiên được
mọi người chú ư đến một cách đặc
biệt, và như thế, ta phải nhận là dư
luận cũng nhiều lúc công minh" (trang 176).
Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi Nhân
Việt Nam (nhà in Thụy Kư, Hà Nội, 1942), 45 thi sĩ
được coi là những nhà thơ hiện đại
làm thơ mới, chỉ có hai người ở miền
Nam được nói đến: Đông Hồ và Mộng
Tuyết. Trong bài nói đầu: một thời đại
trong thi ca, Hoài Thanh và Hoài Chân nh́n nhận Nguyễn Thị
Kiêm, một người đă diễn thuyết cổ vơ
cho thơ mới ở miền Nam hồi 1933 là một
nữ sĩ có tài có gan này không được giới
thiệu trong số 45 thi sĩ hiện đại mà
nhiều người trong số 45 đó ngày nay đă hoàn
toàn bị bỏ rơi vào quên lăng.
ĐÀO ĐĂNG VỸ: Lịch tŕnh tiến hóa
của văn học và tư tưởng Việt Nam
hiện đại (1865-1946)
Trong Văn học tuần
san, xuất bản ở Saigon, số mùa Xuân 1-2-1937 (trang
7-10) về mục tâm sự của nhà văn Hoàng Tân Dân
thuật lại ư kiến của Đào Đăng Vỹ,
Hội trưởng Hội Quảng Trị ở Huế,
đăng trên báo Patrie annamite ngoài Bắc mở một
cuộc điều tra về thanh niên trí thức. Viết
đến mục "Les écrivains journalistes", cuộc
điều tra chia làm hai khoản:
1) Tính chất văn học
Việt Nam trước khi chịu ảnh hưởng
văn hóa Pháp.
2) Sự tiến hóa của
văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng
của tư tưởng và văn học Pháp. Sự
tiến hóa này chia làm ba thời kỳ:
- Thời kỳ I: do những
Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là những
người viết văn viết báo tiêu biểu.
- Thời kỳ II:
a) Xu hướng lăng mạn:
Hoàng Ngọc Phách, Tương Phố.
b) Xu hướng yêu
nước và cách mạng.
- Thời kỳ III: Thời
kỳ hiện đại bắt đầu từ Hoàng Tích
Chu gồm nhiều xu hướng, trường phái, Hoàng
Tân Dân bày tỏ lập trường của ḿnh là "duy
vật biến chứng pháp. Tôi dùng nó để phê b́nh các
học thuyết khác". Đến năm 1948, Đào
Đăng Vỹ diễn thuyết ở Huế (18-7) và
ở Saigon (2, 17-10-1948) bằng tiếng Pháp về lịch
tŕnh tiến hóa của văn học và tư tưởng
Việt Nam. Hiện đại (1865-1946) chúng tôi chỉ có
bản tiếng Pháp (2) lập lại luận điểm
đă nói trong Patrie annamite có kể tên các báo Nông Cổ mín
đàm, Nhựt báo Tỉnh, Lục tỉnh Tân văn,
Đông Dương tạp chí, Trung Bắc Tân văn, Nam
Phong, rồi chỉ giới thiệu các người
viết trong tờ sau ở Bắc Kỳ. Riêng về
Trần Trọng Kim được giới thiệu như
"một nhà viết sử đầu tiên của
thời hiện đại. Vừa biết tiếng Pháp
vừa thông thạo chữ Hán, ông là người
đầu tiên đem những phương pháp t́m kiếm
khoa học vào việc nghiên cứu những sử liệu
bằng chữ nho và đă cống hiến cho chúng ta
những tác phẩm lớn: Bộ Việt Nam sử
lược, một bộ sách thật hay mà không một tác
phẩm trước nào sánh kịp...". Về
tiểu thuyết, chỉ nhắc đến Hồ
Biểu Chánh và Phú Đức, Đông Hồ, c̣n lại toàn
nói về các nhà văn miền Bắc.
Trần Văn Giáp, Nguyễn
Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong
Châu: Lược truyện các tác giả Việt Nam
tập II (nhà xuất bản Khoa học xă hội, Hà
Nội, 1972) Nghiêm Toản đă lưu tâm nhưng c̣n
rất mơ hồ. Đến các tác giả bộ
Lược truyện..., sự thận trọng rơ rệt
hơn. Chẳng hạn về văn xuôi, trước
hết đă phát hiện một tiểu thuyết bằng
văn xuôi, chữ nôm, vô danh, không biết được
sáng tác tự bao giờ, nhan đề "Trần
Đại Lang" được Hồ Văn Đoàn
dịch ra tiếng Pháp trên tạp chí Revue Indochinoise 1905.
C̣n về tiểu thuyết
bằng chữ quốc ngữ, nhắc đến cuốn
tiểu thuyết viết theo lối mới "Cuộc
tang thương" của Đặng Trần Phát (nhà
in Vĩnh Thành, 1923, Hà Nội) nghĩa là viết và in
trước Tố Tâm. "Cuộc tang thương"
viết năm 1922 và xuất bản năm 1923,
trước Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách
(xuất bản năm 1925). Cuốn tiểu thuyết "Cành
lê điểm tuyết" của Đặng Trần
Phát, cũng là một tiểu thuyết lăng mạn nhưng
lại viết trước "Cuộc tang
thương".
"Một điều
nhận xét nữa là: những tiểu thuyết Pháp
đều xuất hiện trên các báo miền Nam
trước tiên; đă có những người như
Hồ Văn Đoàn phỏng dịch tiểu thuyết Nôm
của ta cải biên lại theo nghệ thuật viết
tiểu thuyết phương Tây từ năm 1905; thế
th́ tiểu thuyết lăng mạn có thể không phải
chỉ xuất hiện trước tiên ở miền
Bắc từ 1921, 1922 với "Cành lê điểm tuyết,
Cuộc tang thương" và từ 1925 với Tố Tâm,
mà có lẽ phải xuất hiện ở miền Nam từ
nhiều năm trước thời gian đó (1922). Ở
Nam bộ, U t́nh lục xuất bản năm 1909 hay 1913?
"Chúa tàu Kim Quy" xuất bản năm 1913 hay 1926?
"Lỡ bước phong t́nh" và "Oan kia theo
măi", tiếc rằng không biết rơ nội dung, nhưng
cái tên của nó cũng nói lên phần nào tính lăng mạn
của tiểu thuyết; và có thể c̣n có nhiều
quyển khác nữa xuất bản ở miền Nam từ
1921 trở về trước bị thất lạc,
cần nghiên cứu trong thư mục của Thư
viện Quốc gia của Pháp mới rơ
được".
V́ không biết, muốn t́m
hiểu cũng chưa có điều kiện, nên các tác
giả kể trên chỉ kê khai một số tác phẩm
của Nguyễn Chánh Sắt là tác giả duy nhất
biết được.
Có lẽ sự thận
trọng dè dặt của nhóm ông Trần Văn Giáp không
được chú ư đến, nên dư luận nói chung khi
đề cập đến văn xuôi, tiểu thuyết
thời kỳ này, cho đến nay vẫn nhắc lại
luận điểm của các ông Dương Quảng Hàm,
Vũ Ngọc Phan. Chẳng hạn trong "Anthologie de la
littérature Vietnamienne" (Ed. en langues étrangères Hanoi, 1975) tome
III vẫn khẳng định: "Hai tên tuổi
nổi bật Hồ Biểu Chánh ở miền Nam và Hoàng
Ngọc Phách ở Hanôi... Trong số các nhà tiểu
thuyết và truyện ngắn khác chúng tôi giới thiệu
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Trọng
Thuật" (trang 40). Trong "Lịch sử văn
học Việt Nam", văn học viết 4B, thời
kỳ II, Giai đoạn II. Đầu thế kỷ XX -
1930, Lê Trí Viễn, Nguyễn Đ́nh Chú. Tủ sách
đại học Sư phạm (nhà xuất bản Giáo
dục 1976) nói đến phiên dịch, nghiên cứu, phê b́nh
trong giai đoạn này th́ thấy phần lớn
đều do người trong hai nhóm Đông Dương và
Nam Phong làm.
Đáng chú ư nhất về
dịch Hán văn là Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ
Mục, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Chánh Sắt,
về dịch Pháp văn là Nguyễn Văn Vĩnh và
Phạm Quỳnh.
Đi đôi với việc
phiên dịch là việc nghiên cứu phê b́nh. Các người
làm công việc nghiên cứu văn học đầu tiên lúc
này là Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Ngọc... Phan Kế
Bính viết Việt Hán văn khảo, Nguyễn Văn
Ngọc được nhắc đến v́ các tập Ca
dao tục ngữ, Truyện cổ nước Nam, Nam thi
hợp tuyển, Câu đối v.v...
- Về tiểu thuyết:
Truyện ngắn đă có từ trước ở trong Nam.
Từ sau đại chiến trở đi, ngoài Bắc
mới xuất hiện những truyện ngắn
đầu tiên của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy
Tốn. Không bao lâu truyện ngắn trở thành một
đ̣i hỏi của công chúng nên báo chí đều có
đăng. Đến năm 1925 quyển tiểu thuyết
đầu tiên ra đời: đó là quyển Tố Tâm
của Hoàng Ngọc Phách. Đồng thời có "Quả
dưa đỏ" của Nguyễn Trọng Thuật
và sau đó là "Kim Anh lệ sử" của
Trọng Khiêm. Trong Nam, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đ́nh
cũng xuất bản tiểu thuyết đầu tay
của ḿnh" (trang 19-20).
Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại tập I. Nhà xuất bản
Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hanôi 1974
chương I. Những khuynh hướng tiểu thuyết
trước 1930 và những mầm móng đầu tiên
của một nền tiểu thuyết mới.
"Từ năm 1925 bắt
đầu xuất hiện những cuốn tiểu
thuyết quốc ngữ đầu tiên: Tố Tâm của
Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn
Trọng Thuật, Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm,
Cay đắng mùi đời, Tiền bạc, bạc
tiền (1926) của Hồ Biểu Chánh, Nho Phong (1926)
của Nguyễn Tường Tam..."
Tiểu thuyết Hoàng Ngọc
Phách đă mở ra một phương hướng mới
cho tiểu thuyết truyền thống. Vị trí của
cuốn tiểu thuyết này trong văn học Việt Nam
có thể so sánh với vị trí của những cuốn
Quận Chúa Cơlevơ (Princesse de Clèves) của bà
Đờ la Phalet (Mme de la Fayette) hay Manông Letxcô (Manon Lescaut)
của tu sĩ Prévô (Prévost) trong tiểu thuyết Pháp.
Đứng về nghệ
thuật viết tiểu thuyết mà nói, Tố Tâm xứng
đáng là một tác phẩm đầu tiên chuẩn bị
cho sự h́nh thành của nền tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại". (trang 129)
Về miền Nam, chỉ có
hai người được nói đến: Phú
Đức và Hồ Biểu Chánh. Riêng Phú Đức chỉ
được nhắc đến tên mà thôi.
b. Những tác giả ngoại
quốc
Những tác giả Việt Nam
ở nước ngoài hay tác giả người
nước ngoài mà chúng tôi được đọc,
viết về văn học sử Việt Nam thường
cũng chỉ dựa vào dư luận của các nhà văn
học phê b́nh Việt Nam.
Le roman Vietnamien contemporain.
Tendance et évolution du roman vietnamien contemporain (1925-1945) Bùi Xuân Bào (Tủ sách Nhân
văn xă hội, Saigon 1972). Đây là luận án phụ
Tiến sĩ văn chương mà ông Bào tŕnh ở Sorbonne
năm 1961. Sở dĩ chúng tôi lưu ư đến cuốn
sách này là v́ luận điểm quen thuộc kể trên,
nhưng được ông thầy chuyên về lịch sử
và ngôn ngữ Đông Dương ở Collège de France là Emile
Caspardonne chấm và chấp nhận.
"Những tuyệt tác
đầu tiên".
"Năm 1925 được
đánh dấu bằng việc xuất bản hai tuyệt
tác chứng tỏ sự thắng thế của tiểu
thuyết hiện đại: Tố Tâm của Hoàng Ngọc
Phách và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng
Thuật... Lần đầu tiên, một nhà nho thuộc
trường phái cũ viết một tiểu thuyết
bằng quốc ngữ và văn xuôi bằng cách thử
sử dụng những điều hiểu biết về
nghệ thuật tiểu thuyết Tây Phương vào
việc biện minh cho một luận điểm ḿnh yêu
thích. Cũng lần đầu tiên một nhà văn trẻ
được đào tạo theo lối Pháp vẽ lên
một đối nghịch tử thù giữa những khát
vọng cao siêu nhất của con người và đạo
đức cũ: ảnh hưởng của phái lăng
mạn Âu Châu được dịp giải tỏa
những xu hướng t́nh cảm bị nho giáo ức
chế từ nhiều thế kỷ".
(trang 36 và 48-49, Chương
sự khai sinh tiểu thuyết hiện đại)
- Introduction à la littérature
vietnamienne. M. Durand et Nguyễn Trần Huân (3). Đây là
cuốn giới thiệu văn chương Việt Nam và
thế giới trong khuôn khổ UNESCO do một người
chuyên văn hóa Việt Nam phụ trách, M. Durand. Khi nói về
tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, hai tác
giả viết: "Tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại hiểu theo quan niệm Âu Châu, chỉ
bắt đầu thấy xuất hiện từ thế
chiến lần thứ nhất khi những truyện
ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Phan
Kế Bính, ra mắt trên Đông Dương tạp chí và Nam
Phong tạp chí".
Ở miền Nam, những
truyện Tàu có được dịch ra như Phong
Thần, Tam Quốc, Đông Châu liệt quốc. Rồi
khuôn mặt của Hồ Biểu Chánh nổi bật trong
những năm 1912 với những tác phẩm b́nh dân
của ông. Như thế là tiểu thuyết hiện
đại khai sanh ở miền Nam nhưng những
truyện của Hồ Biểu Chánh chỉ được
biết đến ở Nam Kỳ c̣n độc giả
ở Bắc hoàn toàn không biết tới. Phải
đợi đến năm 1925 khi "Quả dưa
đỏ" của Nguyễn Trọng Thuật và
"Tố Tâm" của Hoàng Ngọc Phách được
in ra, tiểu thuyết mới có một tiếng vang trong
toàn quốc (155-156).
Nguyễn Trần Huân,
professeur, chargé de conférences à l'Ecole pratique des Hautes Etudes
(Sorbonne).
Les romans vietnamien contemporain
(1905-1973)
Communication présentée au XXIXè Congrès
international des Orientalistes. Paris 20 Juillet 1973 (in lại trong
Etudes inter-disciplinaires sur le Viet Nam. Volume I Saigon, 2è semestre
1974).
Trong bài này, ông Nguyễn
Trần Huân nhắc lại những phát giác của nhóm ông
Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng
về một tác văn trong Revue Indochinoise 1905; Đặng
Trần Phát và Vơ Liêm Sơn (1888-1949) với Cô Lâu Mộng 2
tập in ở Hứa Văn Quảng 1934 theo các tác
giả: "Lược truyện các tác gia Việt Nam"
năm 1924 theo ông Huân. Phần phát giác của ông Huân là
truyện "Tân cựu điều ḥa" của Vơ Liêm
Sơn đăng trong Nam Phong số 66 tháng 12/1922 và một
vài truyện dịch của Trung Quốc hay Pháp như
Nguyễn Trọng Đường, cử nhân Hán học
dịch một truyện trinh thám Pháp đặt tên là Ba Lan
và một truyện t́nh "Chết sống thuyền
quyên" nhưng chưa cho biết rơ dịch từ nguyên
tác nào và in ở đâu năm nào; Ngô Tất Tố dịch
truyện Tàu "Cẩm hương đ́nh" (1923),
Nguyễn Đại Quán, một viên chức ở Thái B́nh
xuất bản một truyện lịch sử 18 vua Hùng
cùng với tiểu sử của hai công chúa Tiên Dung, Ngọc
Hoa và truyền thuyết Tôn Viên, Dạ Trạch.
Nhà thơ Nguyễn Can Mộng
(1875-1953) xuất bản năm 1923 một tiểu thuyết
lịch sử bằng văn vần về mối t́nh
Mỵ Châu Trọng Thủy dưới nhan đề
"Bức tranh ḷng son" và sau cùng, một nhà nho khác
Đoàn Tử Thuật dịch vở kịch
"Truyện Tỳ Bà" cùng với Tản Đà từ
Hán văn ra quốc ngữ năm 1923?
Ngoài việc tiết lộ
một bức thư riêng của Nguyễn Tiến Lăng cho
biết ư kiến của ông Lăng coi "Giấc mộng
con" mà ông đề tựa in năm 1916 là tiểu
thuyết Việt Nam đầu tiên, ông Nguyễn Trần Huân
vẫn giữ luận điểm của ông đă viết
ra trong Introduction à la Littérature coi "Tố Tâm" là
"tiểu thuyết đích thực" (le vrai roman) và có
một "tiếng vang cả nước" (retentissement
national) cùng với "Quả dưa đỏ" mặc
dầu truyện này có nhiều khuyết điểm và
vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề văn
chương Trung Hoa, trái lại Tố Tâm chịu ảnh
hưởng văn chương Pháp (cuốn La Dame aux Camélias)
và ông kết luận bằng khẳng định:
"Thực tế có thể coi năm 1925 là năm khai sinh
tiểu thuyết Việt Nam". Điều đáng
lưu ư là ông Nguyễn Trần Huân đă nêu lên trong bài là
"Vấn đề đặt ra cả ở miền
Bắc và miền Nam là t́m xem cuốn tiểu thuyết nào
kể như cuốn truyện được mọi
người nh́n nhận là tiểu thuyết hiện
đại cho đến nay vẫn chưa được
giải quyết" và ông đă biết giả thuyết
của nhóm ông Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường
Phượng về cuốn tiểu thuyết đầu
tiên có ở miền Nam vào quăng 1872 có lẽ là cuốn
Trần Đại Lang, ông cũng đă nhắc đến
cuốn "U t́nh lục" của Hồ Biểu Chánh
(1913) (thực ra cuốn này là thơ truyện giống các
truyện nôm khác nhưng không thấy ông có ư t́m kiếm
ở miền Nam xem có ǵ khác ngoài "Trần Đại
Lang", Hồ Biểu Chánh, và vẫn tiếp tục
giới thiệu các tác giả miền Bắc, giữ nguyên
luận điểm cũ.
- Văn học Việt Nam
giản lược. Moskva - 1971 - VI Nikulin (bản tiếng
Nga). Tác giả Nga thận trọng nên chỉ thuật
lại theo các nhà nghiên cứu Việt Nam.
"Đông Dương
tạp chí" (1913-1917); Nam Phong (1917-1934) và một số
tạp chí khác. Trên các cơ quan báo chí này công bố ngoài các
bài luận thuyết chính trị quảng bá các tư
tưởng trung thành với mẫu quốc c̣n đăng
tải - lần đầu tiên trong lịch sử văn
hóa Việt Nam - các tác phẩm văn học cổ
điển phương Tây (chủ yếu là Pháp và Trung
Quốc...).
Năm 1925 ra đời Tố
Tâm, cuốn tiểu thuyết mà giới nghiên cứu văn
học Việt Nam thường cho là mở đầu
của hướng lăng mạn ở Việt Nam. Nhưng
những ǵ mà những nhà nghiên cứu dựa vào khái
niệm "lăng mạn" không tương
đương với chủ nghĩa lăng mạn trong
văn học phương Tây" (trang 175-176 - Bùi Khánh
Thế dịch từ nguyên bản tiếng Nga).
c) Những tác giả gốc
Bắc làm văn học ở Miền Nam
Những người ở
miền Bắc bỏ quên mảng văn học này nếu
chỉ v́ không biết là điều hiểu
được, nhưng có những người vào Nam, sinh
sống hẳn trong này lâu lắm, làm báo, giảng dạy
văn học ở các trường, viết sách văn
học, mà cũng bỏ quên không biết đến v́
một quan điểm văn học.
Phê b́nh và cảo luận
(Critique de la Littérature moderne et quelques essais littéraires). Soạn
giả Thiếu Sơn in lần thứ nhất có 12
bức h́nh. Văn học tùng thư (Editions Nam Kư, Hanoi,
1933).
Thiếu Sơn vào Saigon làm báo,
tiểu thuyết, sau gom lại in thành tuyển tập
"Phê b́nh và cảo luận". Trong số 12 bài phê b́nh
nhân vật và sách chỉ có một người miền Nam
duy nhất được nói tới là Hồ Biểu Chánh
(các tác giả kia là Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nguyễn
Khắc Hiếu, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng,
Trần Tuấn Khải, Tương Phố, và các tác
phẩm Tố Tâm, Người vợ hiền, Quả
dưa đỏ).
Thiếu Sơn diễn
thuyết tại Hội Nam Kỳ khuyến học ở
Saigon về "Báo giới và văn học quốc ngữ
" nhưng chỉ nói về báo chí, học giả
miền Bắc (trong hai tờ Đông Dương tạp
chí và Nam Phong) và về ảnh hưởng văn học
của hai tờ trên ở Nam Kỳ đặc biệt
đối với nhóm ông Đông Hồ, Trúc Hà, Trọng
Toàn.
Vào miền Nam, ở miền
Nam, nhưng nói viết vẫn hướng về miền
Bắc, lấy tiêu chuẩn văn học miền Bắc
(đối với Thiếu Sơn lúc đó là Nam Phong) và sau
cùng ra sách cũng gửi về Bắc in.
Tiếp theo sau Thiếu
Sơn, hàng loạt những nhà văn, nhà báo, nhà giáo vào Nam
hồi 1954 cũng vẫn viết báo, in sách, giảng
dạy văn học sử Việt Nam bỏ quên hoặc
bỏ qua mảng văn chương kể trên ở
miền Nam, nhắc lại những luận điểm của
Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm...
Chẳng hạn Phạm
Thế Ngũ trong "Việt Nam văn học sử
giản lược tân biên, tập 3, văn học hiện
đại 1862-1945" (Quốc học tùng thư, Saigon,
1965). Tập ba có 661 trang trừ hai chục trang dành cho
"Buổi đầu của văn quốc ngữ"
với Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của và 13
trang dành cho Hồ Biểu Chánh, c̣n lại toàn dành cho văn
học miền Bắc. Chỉ ḿnh nhóm Đông Dương
tạp chí và Nam Phong chiếm trên 300 trang.
Riêng về tiểu thuyết
cũng khẳng định những Nguyễn Bá Học,
Phạm Duy Tốn là những người tiền phong
viết truyện ngắn và Nguyễn Trọng Thuật,
Hoàng Ngọc Phách là những người viết truyện
dài thành công đầu tiên.
"Tuy có hai nhà văn thời
này mở lối cho loại đoản thiên đă
để lại những thành tích đáng giá, đó là
Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn" (trang 346).
"C̣n lại thật sự,
được người đương thời đón
nhận thưởng thức và cho là có giá trị rơ ràng là
hai tác phẩm Tố Tâm và Quả Dưa đỏ, có
thể coi như những thành công đầu tiên của
văn gia ta" (trang 355).
- Văn học sử thời
kháng Pháp (1858-1945). Lê Văn Siêu 400 trang (Trí Đăng, Saigon,
1974).
Viết về thời kỳ
đầu thế kỷ XX, cũng chỉ đề cao
nhóm Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. C̣n miền Nam,
chỉ có mấy người dịch truyện Tàu, chỉ
để giải trí, không có giá trị văn chương
(trang 139).
- Bảng lược
đồ văn học quyển ba, Thanh Lăng. Ba thế
hệ của nền văn học mới (1862-1945). Nhà XB
Tŕnh Bày Saigon 1967. Sách gồm trên 800 trang. Phần văn
học thế hệ 1862 (1862-1913) 159 trang, chỉ có 10 trang
nói về Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của và
10 trang về Phan Thanh Giản, Phan Văn Trị, Bùi Hữu
Nghĩa, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Văn Giai,
Nguyễn Đ́nh Chiểu.
Phần văn học thế
hệ 1913 (1913-1932) chỉ có 8 trang dành cho Hồ Biểu
Chánh, c̣n trên 400 trang giới thiệu nhóm Đông Dương
tạp chí và Nam Phong.
Lược sử tiểu
thuyết Việt Nam. Tạp chí Thời Tập số II
ngày 18-9-1974 do Viên Linh chủ trương. Saigon khởi
đăng loạt bài của Lê Duy Oanh, gốc Bắc
như người chủ trương, về Hoàng Ngọc
Phách, Nhất Linh, Ngô Tất Tố, Hồ Biểu Chánh khi
nói về tiểu thuyết thời tiền chiến
cũng giữ một luận điệu đă trở
thành hầu như hiển nhiên:
"Ông Nguyễn Bá Học,
một cây viết của nhóm Nam Phong có lẽ đă là
người đầu tiên dùng quốc ngữ để
viết tiểu thuyết theo thể truyện ngắn. Ông
Học đă cho đăng trên Nam Phong gần 10 truyện
ngắn trong số có những chuyện hiện c̣n
được nhiều người nhắc tới như
"Câu chuyện gia đ́nh" (1918), "Chuyện ông
Lỵ Chăm; có gan làm giàu"... Đồng thời ông
Phạm Duy Tốn, cũng trong nhóm Nam Phong và là người
thông thạo Tây học, cũng đă dùng chữ quốc
ngữ để viết những truyện ngắn như
"Sống chết mặc bay" (1918), "Con
người sở khanh". Văn Pháp của ông Tốn
đă có vẻ linh hoạt gọn gàng sắc sảo hơn
văn của ông Học. Nhưng cả hai ông, nhất là
ông Học, đă được hậu sinh coi như hai
người mở đường cho loại tiểu
thuyết mới Việt Nam bằng chữ quốc
ngữ. Chừng sáu bảy năm sau, cũng trong nhóm Nam
Phong, có thêm ông Nguyễn Trọng Thuật, với cuốn
tiểu thuyết "Quả dưa đỏ" xuất
bản năm 1925 và đă được giải
thưởng văn chương của Hội Khai Trí
Tiến Đức, ông Nguyễn Trọng Thuật
được hậu sinh coi như một trong hai
người đầu tiên viết tiểu thuyết dài
bằng chữ quốc ngữ, vị thứ hai,
người được coi như đă cùng với ông
Thuật mở đường cho loại chuyện dài là
ông Song An Hoàng Ngọc Phách, tác giả cuốn truyện danh
tiếng Tố Tâm... nội dung "Quả dưa
đỏ" chỉ là một chuyện đă cũ,
chuyện An Tiêm, c̣n nội dung truyện Tố Tâm hoàn toàn
mới mẻ và được hậu thế coi như
cuốn truyện đầu tiên của loại tiểu
thuyết lăng mạn bằng quốc ngữ. Với Tố
Tâm, Song An Hoàng Ngọc Phách xứng đáng được
coi như thủy tổ của tiểu thuyết lăng
mạn Việt Nam tiền chiến" (trang 14-15).
Khi nói tới ảnh
hưởng văn hóa ngoại quốc trong tiểu
thuyết Việt Nam, Lê Huy Oanh viết: "Sang thời
kỳ chữ quốc ngữ, những tiểu thuyết
gia am tường nho học như cụ Nguyễn Bá
Học hoặc cụ Nguyễn Trọng Thuật
đều vẫn c̣n chịu ảnh hưởng nặng
của Tàu cả về tư tưởng lẫn h́nh
thức. Sau đó tới ảnh hưởng Tây
phương. Thể văn tiểu thuyết mới kể
từ Song An Hoàng Ngọc Phách trở đi là thể văn
hoàn toàn du nhập từ Tây phương" (trang 22).
3) Chính nhà văn người
miền Nam phủ nhận và bỏ qua:
Một vài nhà văn, thơ
trong nhóm Đông Hồ đă phủ nhận văn
chương ở miền Nam thời kỳ này nên bỏ
qua, không nhắc đến ngay cả Hồ Biểu Chánh,
v́ họ chọn tiêu chuẩn làm văn chương là Nam
Phong và lấy Nam Phong làm diễn đàn, và cũng chính v́
thế mà từ thời đó cho đến nay, họ
được biết đến nghĩa là được
các nhà viết văn học sử gốc miền Bắc
công nhận.
Lược khảo về
sự biến hóa của quốc văn trong lối
viết tiểu thuyết. Nam Phong số 175, 176 năm 1932;
Trúc Hà tŕnh bày diễn tiến của thể văn này mà
không hề nhắc đến bất cứ một ai
ở miền Nam. Tiêu chuẩn lư luận th́ dựa vào
cuốn "Khảo về tiểu thuyết" của
Phạm Quỳnh và "Việt Hán văn khảo"
của Phan Kế Bính. Truyện ngắn th́ kể "Nho
phong" của Nguyễn Tường Tam, "Sống
chết mặc bay" của Phạm Duy Tốn,
"Truyện Cô Chiêu Nh́" của Nguyễn Bá Học.
Dịch chuyện Tàu, Tây th́ kể các tác phẩm của
Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Năm 1925
"Kỷ niệm bước đầu trên
đường văn học với "Quả dưa
đỏ" được giải thưởng văn
chương của Hội Khai Trí Tiến Đức;
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. "Người quay
tơ" của Nhất Linh...".
Văn học miền Nam.
Văn học Hà Tiên? Chiêu Anh Các, Hà Tiên thập cảnh, Khúc
vịnh. Đông Hồ (4). Nội dung cuốn sách là
những khóa giảng ở Đại học Văn khoa những
năm 1966-1969. Đông Hồ chỉ nói đến văn
chương chữ nôm, chữ Hán mà thôi, không nói ǵ
đến văn chương chữ quốc ngữ, v́
chỉ có văn chương của nhóm Trí Đức
học xá mới là văn chương, nhưng chả
nhẽ Đông Hồ lại nói về ḿnh: Dĩ nhiên
Đông Hồ có nói những lư do phủ nhận bỏ qua
văn chương thời kỳ này ở miền Nam ngay
từ thời ấy ở báo "Sống" (1935) và
ở các báo khác sau này (như số Văn, tưởng
niệm Hồ Biểu Chánh, số 8 ngày 15/8/67).
Nhưng độc giả
miền Nam lại coi nhóm Đông Hồ như những
đứa con hoang; Trong chỗ riêng tư, ông Vương
Hồng Sển thường nói đùa: "Đông
Hồ là nhà văn Bắc Kỳ".
Sau cuộc căi vă do Phan Khôi gây
ra về việc viết sai chính tả, Đông Hồ trên
báo "Sống" do ông chủ trương, lại nêu
vấn đề phát âm, viết hỏi ngă cho đúng và thái
độ của nhóm ông đối với văn
chương Nam Kỳ. "Sống" số 19 Mars 1935
"Dấu hỏi dấu ngă". "Báo chí in trong Nam mà in
được dấu hỏi dấu ngă là một sự
rất khó khăn... Chúng tôi hết sức thu xếp
với nhà in và nhiều công phu xem xét để từ
đây báo "Sống" cũng in được đúng
dấu hỏi dấu ngă như các báo ở Bắc".
Số 41 ngày 9 Avril 1935. Nam Phong
đ́nh bản. "Hồi 1922 học tṛ mới ra
trường. Có một điều tôi nhớ chắc là
năm ấy những bạn học cùng lớp với tôi
cũng như tôi, ngoài những sách học của nhà
trường phát cho th́ tuyệt nhiên không biết có báo chí
sách vở nào khác nữa. Có chăng chỉ là những
tiểu thuyết hoang đường của Tàu dịch ra
quốc ngữ như chuyện Phong thần, Thủy
Hử, Chinh Đông Chinh Tây đă làm hư hoại những
bộ óc ngây thơ mất cái trí phán đoán trong khi
đọc sách chỉ tin mê những chuyện quái
đản, dị thường. Sách vở báo chí cần ích
bấy giờ rất kém cỏi như thế mà tôi
được cái may mắn ngẫu nhiên biết
được báo Nam Phong, tôi có một mối cảm t́nh
thân thiết, tự tôi thường lấy đó làm
một cái duyên gặp gỡ lạ lùng".
Số 29 ngày 11 Septembre 1935.
"Thống nhất Nam Bắc bằng cách lợi dụng
văn chương". Đông Hồ viết: "Nhớ
lại khoảng 15 năm về trước, nhiều
người trong Nam khi giở đến một quyển
truyện Bắc th́ chau mày phê b́nh: "Nó nói cụ kệ
(5) cái ǵ mà tôi chẳng hiểu được chút nào
hết". V́ giao thông bất tiện nên Nam Bắc ít
hiểu nhau, nhưng giao dịch công nghệ phát đạt
sẽ tạo điều kiện thống nhất.
Số 30 ngày 18 Sep. 1935. Ảnh
hưởng của Đất nước trong văn
chương. Ta có nên chia rẽ tiếng Nam và tiếng
Bắc không? Đông Hồ chống chủ trương phân
biệt: "Thế mà trong Nam vẫn có nhiều
người lại là người đă từng viết
văn đọc sách muốn phân chia ra tiếng Nam, Bắc
Kỳ và tiếng Nam Kỳ th́ c̣n ǵ vô lư nữa". Theo bà
Mộng Tuyết kể lại cho chúng tôi: hồi đó nhóm
Đông Hồ giao thiệp với ngoài Bắc, nhóm Nam Phong,
các ông Nguyễn Khắc Hiếu, Thiếu Sơn, Nguyễn
Trọng Thuật, Trúc Hà, Đông Hồ gửi bài
đăng ở Nam Phong, Mộng Tuyết gửi truyện
ngắn "T́nh trong sạch" dự thi văn
chương được giải thưởng nhứt
của Nam Kư thư quán Hanôi. Khi Hoài Thanh biên soạn "Thi
nhân Việt Nam" chỉ gửi thư xuống Hà Tiên liên
lạc với Đông Hồ, Mộng Tuyết, nên sách in ra
chỉ có 2 người ở miền Nam có tên trong "Thi
nhân Việt Nam hiện đại" Bà Mộng Tuyết cũng
thú nhận riêng với chúng tôi dư luận lúc đó ở
miền Nam tỏ ra bất b́nh về sự kiện kể
trên".
Hơn 30 năm sau, Đông Hồ
mới nói rơ lư do tại sao nhóm ông phủ nhận văn
chương ở miền Nam thời đầu thế
kỷ trong bài: "Hồ Biểu Chánh, nhà văn bạch
thoại miền Nam" (6). Đông Hồ kể lại sau
khi Trúc Hà viết bài "Lược khảo..." ít lâu,
ông lên Saigon gặp Thiếu Sơn và nghe Thiếu Sơn trách
tại sao "Chúng tôi biên khảo về tiểu thuyết
mà lại bỏ quên, không đả động đến
một nhà văn tiểu thuyết lớn trong Nam là Hồ
Biểu Chánh". Đông Hồ trả lời: "Bài biên
khảo đó như nhan bài đă nêu, Trúc Hà chỉ nh́n
một phương diện văn chương, chỉ theo
dơi sự tiến hóa và phát triển của văn
chương quốc ngữ trong lối viết chữ
quốc ngữ mà thôi, chứ không phải là một bài biên
khảo về tiểu thuyết toàn diện". Theo câu
trả lời của tôi lúc đó, đủ chứng
tỏ rằng Trúc Hà và tôi không nhận thấy trong tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh có "văn
chương". Đă không thấy trong đó có văn
chương th́ có thấy đâu trong đó có sự
tiến hóa của quốc ngữ mà nêu ra vấn đề...
Đông Hồ thú nhận
đọc Hồ Biểu Chánh phải nhận ông tả
đúng đời sống xă hội của Nam Kỳ
lục tỉnh... nhưng "đọc th́ cũng đọc",
thích th́ cũng thích, duy chúng tôi cứ không chịu
được lời văn viết trơn tru thẳng
tuột hời hợt của ông.
Thời kỳ đó, theo quan
niệm của chúng tôi viết là làm văn chương mà
văn chương th́ phải sửa sang gọt dũa,
phải điêu luyện chải chuốt. Đâu là tả
thực đâu là tả chân, câu văn cũng phải
xếp đặt lại hơn ngôn ngữ thường
dân. Tối thiểu phải có một kỹ thuật... Tôi
không chịu được văn chương của
Hồ Biểu Chánh. Như tôi bây giờ vẫn không
chịu nổi văn chương hát cải lương
với văn chương của những tiểu thuyết
"chưởng" hiện đang thạnh hành. Trong lúc
đó th́ mọi người chung quanh tôi hoan nghênh nồng
nhiệt. Như vậy chứng tỏ rằng quan niệm
của tôi sai lầm và cảm quan của tôi lệch
lạc. Bởi tôi đă bị thành kiến chi phối và
bị truyền thống bó buộc chưa cởi mở
được. Quan niệm đó của tôi y như
những nhà văn không chịu nổi lối văn
hạch thoại của Tàu. Sao mà tôi cứ đứng trên
địa hạt văn ngôn mà nh́n trào lưu bạch
thoại. Nếu tôi đừng quá chủ quan, đừng
quá cách biệt mà nh́n văn viết của Hồ Biểu
Chánh. Tôi coi văn Hồ Biểu Chánh là lối văn
bạch thoại, và coi Hồ tiên sinh là nhà văn bạch
thoại tiền phong như những nhà văn bạch
thoại tiền phong Trung Quốc hồi đầu
thế kỷ này th́ tôi sẽ chấp nhận
được, thưởng thức được
văn chương của họ Hồ; rồi tôi sẽ
chấp nhận và thưởng thức cả văn chương
Hát cải lương, văn chương chưởng
như thường".
Những thiên kiến, mặc
cảm và những vụ lời qua tiếng lại
Mảng văn học này
bị bỏ quên v́ không được biết đến.
Không được biết đến có thể v́ không có
mà đọc. Sống ở miền Bắc và ngay sống
ở miền Nam, kiếm một bộ Nam Phong thật
không khó ǵ, các thư viện công đều có, thư
viện tư nhiều người cũng có, lại có
cả bộ Mục lục đầy đủ đă in
ra để tra cứu, nhưng không dễ ǵ kiếm ra vài
số Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm.
Trầm trọng hơn, có mà không đọc hoặc ngay
cả đọc mà có thiên kiến này nọ th́ dù ở xa
hay ở gần, đều không thấy ǵ cả; hoặc
chỉ thấy điều ḿnh muốn thấy, nghĩa là
những điều đúng theo định kiến...
Thực tế hay sự thực như tấm màn chỉ
vén lên mở ra, mặc khải trước những cái nh́n
sẵn sàng, vô tư và thiện cảm - nếu không, nó
vẫn khép kín, không buông xuống. Người ta không ưa
thích cải lương vọng cổ v́ định
kiến này nọ không bao giờ thấy được cái
hay của cải lương, cảm được cái mùi
của vọng cổ...
Kể ra có nhiều thiên
kiến lắm. Chẳng hạn: Gia Định báo à?
Rặt đăng tin thông cáo của nhà nước th́ có ǵ
lư thú, hay ho mà đọc! Hoặc Nông Cổ mín đàm,
Lục tỉnh tân văn, đó là những tờ báo cổ
vơ việc làm ăn buôn bán, pha chút văn thơ, đâu
phải những tờ báo văn học nghệ thuật,
hiểu theo nghĩa "thuần túy văn học nghệ
thuật". Truyện xuất bản nhiều
đấy, bán chạy như tôm tươi nhưng hầu
hết là thứ truyện Tàu phỏng dịch nhảm nhí,
"chỉ để giải trí không có giá trị văn
chương" (Lê Văn Siêu). C̣n tiểu thuyết
gọi là hiện đại, lấy đề tài Việt
Nam th́ hoặc là viết theo lối trơn tuột chẳng
có chải chuốt ǵ, nôm na, thô kệch hoặc sai bét
về chính tả, làm sao gọi được là văn
chương...
"... Đại Việt tân
báo, Nông Cổ mín đàm lại là những báo chí không có tính
cách văn học, chỉ đăng rặt những tin
vặt, những thông cáo của chính phủ, những bài
diễn văn của người đương thời,
hay nếu có đăng thơ văn th́ cũng là những
thơ văn của độc giả, nhà báo đăng
một cách khuyến khích, chứ thật ra chưa đáng
kể là thơ văn" (Nhà văn hiện đại, tập I, in
lần thứ hai, Vĩnh Thịnh Hanoi 1951, trang 30).
Hoặc "Gia Định
là đất mới. Dân chúng vừa thưa ít, vừa
chưa được thuần nhất... Sự sáng tác
văn học, sự ưa chuộng văn chương,
sự trồng trọt thi văn ở đây chưa có
truyền thống sâu xa, nên kém tiềm lực, kém khả
năng... Quốc văn do đó trong nhiều năm về
sau ở Nam Kỳ chỉ bày tỏ trong h́nh thức báo chí
phổ thông với tŕnh độ trí thức khá ấu
trĩ hoặc ở tác phẩm tiểu thuyết cho
một công chúng hạ lưu dễ dăi. Những người
thức giả lưu tâm đến quốc văn sau
đó lại phải quay ra miền Bắc để
đón tiếp những sáng tác mới cũng như phong trào
văn học mới" (Phạm Thế Ngũ.
Việt Nam văn học sử giản ước tân biên,
tập III trang 85).
Viết sai chính tả - Vụ
Phan Khôi.
Trước Vũ Ngọc
Phan, Phạm Thế Ngũ, Phan Khôi đă chê trách lối
viết sai bét chính tả ngay từ hồi 1929 - 1930 trên
Phụ nữ tân văn. Trong bài "Chữ quốc ngữ
ở Nam Kỳ và thế lực của Phụ nữ.
Từ Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Trai cho
đến Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng
(số 28 ngày 7 Novembre 1929). Phan Khôi viết đại ư: các
cố đạo xưa đă dựa vào tiếng Bắc và
Bắc Trung Kỳ mà tạo ra vần quốc ngữ, nên
miền Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ không đóng góp ǵ hết
vào việc đó. Càng vào Nam, càng phát âm sai... Chỉ riêng trong
giới Công giáo, việc phát âm giữ được
sự thống nhất v́ Bắc theo cái đúng của Nam
và Nam theo cái đúng của Bắc. Chữ quốc ngữ
phổ thông ở Nam Kỳ trước, trong khi ngoài
Bắc, Trung c̣n nằm sấp xuống, cấu bụng trên
ván mà viết chữ Hán. Nam Kỳ là thầy dạy chữ
quốc ngữ cho dân Annam v́ có hai ông đại sư
Trương Vĩnh Kư và Huỳnh Tịnh Của vừa là
công giáo vừa làm tự điển nên phát âm đúng.
Những tự điển của hai ông làm mẫu mực
cho cả nước. Thời Pétrus Kư người ta
viết đúng mặc dù dân chúng có phát âm sai nhưng bây
giờ th́ ôi thôi loạn, ai muốn viết thế nào th́
viết; dịch mà viết ra vịt trong một cuốn
về luật th́ đủ hiểu sai trật đến
đâu. Phan Khôi lôi hai ông Nguyễn Chánh Sắt và Đặng
Thúc Liêng ra v́ nguyên nhân gây ra t́nh trạng trên là do mấy
vị làm báo tiền bối là nhà nho sót lại, không học
chữ quốc ngữ đúng đắn, chỉ học
vần sơ rồi ráp lại mà viết, thành viết sai
mà không hay. Lấy ngay tên hai ông in trên danh thiếp bằng
chữ Hán, phải viết ra Sắc, Liên mới đúng;
Hai ông là nhà văn nổi tiếng, nhưng v́ lười
không chịu tra tự điển của hai ông Kư, ông
Của mà viết cho đúng nên mới viết sai cả tên
ḿnh như vậy... Trong bài "Chữ quốc ngữ
viết tên của ông Đặng Thúc Liêng cần ǵ bỏ
chữ g, cũng ông Phan Khôi phục biện (số 30 ngày
28-11-1929), ông Phan Khôi lược tóm đăng bài trả
lời của con ông Đặng Thúc Liêng là Đặng Công
Thắng cho biết thân phụ viết Liêng là theo ông
Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của chỉ cho
(thiêng liêng) ngoài ra hiện nay không có Hàn lâm viện quy
định, nên viết sao cho thông nghĩa th́ thôi. Chính ông
Phan Khôi cũng viết sai, viết xót thay v́ sót. C̣n ông
Nguyễn Chánh Sắt không viết bài chỉ nói: "Ông Phan
nhiều chuyện quá". Ông Phan Khôi khuyên các cô kén
chồng: hễ các cậu nào không viết chữ quốc
ngữ đúng th́ không lấy, thà ở góa cả
đời chứ không lấy anh chồng không biết
viết quốc ngữ.
Trong Phụ nữ tân văn
số 31 "viết chữ quốc ngữ phải
viết đúng", bác lại bài ông Đặng Công
Thắng con ông Đặng Thúc Liêng (5-12-1929) ông Phan Khôi
nhắc lại những lư lẽ của ông Thắng:
"Chữ quốc ngữ viết thế nào thông nghĩa
th́ thôi, không cần viết đúng v́ không có hàn lâm viện,
sách mẹo quy định và trách ông là người Trung
Kỳ vô đây kiếm ăn c̣n làm phách...".
Số 34: "Vấn
đề viết chữ quốc ngữ cho đúng",
ông Phan Khôi nói lư do không đăng bài của ông Nguyễn
Chánh Sắt và bài thứ hai của ông Đặng Công
Thắng, v́ có tính cách công kích cá nhân, nhưng cũng cho
viết ư ông Sắt nói: tên chính là Sắc viết ra Sắt
do cha mẹ đặt ra tự thuở nhỏ đă vào
bộ làng là Sắt, nên bây giờ cứ để vậy.
Sau đó đăng hai bài của độc giả
đồng ư với lập trường của ông Phan
Khôi.
Số 37: "Một vấn
đề thống nhất tiếng Việt Nam"
(17-1-1930) đây là bài quan điểm của tờ báo do ông
Phan Khôi viết kêu gọi "Nên nhóm toàn quốc
đại hội nghị đặng bàn tính các vấn
đề đó" bác bỏ ư kiến của nghị
viện trong Hội đồng quản hạt yêu cầu
đặt riêng một hội đồng soạn sách theo
tiếng Nam Kỳ cho con nít ở Nam Kỳ học, sách Nam
dùng cho Nam, sách Bắc dùng cho Bắc, và ông kết án nặng
nề: "Chỉ những kẻ ngu dốt, điên khùng
khốn nạn mới có thể nói được rằng
tiếng Annam không cần ǵ học, tiếng Annam là
đồ bỏ, viết sao th́ viết đọc sao th́
đọc".
Xin trích một số
đoạn cuộc trao đổi lời qua tiếng
lại kể trên.
"Bởi vậy tôi nói
rằng chữ Quốc ngữ phát nguyên từ miền
Bắc. Tôi có ư nói ông cố đạo ấy hiệp
cả giọng Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ mà
đặt ra vần quốc ngữ. Sao tôi lại không
kể đến phía Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ? V́ cái
chỗ đúng của hai nơi ấy th́ không đúng
bằng phía Bắc Trung Kỳ, mà c̣n chỗ sai lại sai
quá, càng vào phương Nam chừng nào càng sai chừng
ấy, nên không kể làm chi...".
... Về phía Nam Trung Kỳ,
nói ngay tỉnh Quảng Nam là tỉnh tôi, về vần
ngược chỉ có miền Thượng du nửa
tỉnh phía Nam nói đúng mà thôi, c̣n bao nhiêu th́ sai hết, nghĩa
là không phân biệt c với t, có g với không g. Từ B́nh
Định trở vô, vần vân th́ nói ra ưng. Vào
đến Nam Kỳ lại thêm lộn in với inh, uc
với ut, h với q v.v... không kể hết
được. Tôi nói vào phương Nam chừng nào càng sai
chừng ấy, là nghĩa như vậy. Chúng ta không nên
lấy cớ ḿnh là người phía Nam Trung Kỳ với
Nam Kỳ muốn binh vực cho cái lưỡi của
xứ ḿnh mà gân cổ căi lại. Chúng ta phải nhận cho
kỹ mà chịu đi rằng chúng ta phát âm (prononcer)
tiếng Annam thiệt không đủ giọng bằng
tiếng Bắc.
V́ cái cớ phát âm không
đủ giọng ấy, nên tôi dám quyết rằng
hồi ấy, ông cố đạo đó theo tiếng Annam
mà đặt ra quốc ngữ th́ không cần dùng
đến giọng phía Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ, tiếng
của hai miền này thật không có được một
chút nào vào sự sáng tạo vần quốc ngữ v́ dùng
nội giọng Bắc Kỳ và giọng phía Bắc Trung
Kỳ là đủ rồi:
- Chữ quốc ngữ phát
nguyên từ miền Bắc, nhưng kể ra người
Annam ta bắt đầu thông dụng nó, học tập nó,
làm sách vở bằng nó, th́ lại từ miền Nam,
tức là Nam Kỳ.
Chữ quốc ngữ hồi
đầu chỉ có tín đồ đạo Thiên Chúa dùng mà
thôi. Họ lấy nó mà dịch kinh, dịch sách rồi
đem dạy trong các nhà trường của họ. Sự
đó suốt từ Bắc chí Nam như nhau, không khác;
nghĩa là trong dân Annam th́ người có đạo Thiên Chúa
dùng chữ quốc ngữ trước hết thảy; mà
họ lại dùng theo y một lối? Bắc phải theo
sự đúng của Nam; Nam phải theo sự đúng
của Bắc, từ đó cho đến bây giờ.
- "Kể cái công tập tành
chữ quốc ngữ, cho quen và rải rác nó cho một ngày
một rộng ra ấy là phải kể cho xứ Nam
Kỳ.
Tôi muốn nói xứ Nam Kỳ
là thầy dạy chữ quốc ngữ cho cả và dân
Annam cũng không phải là quá đáng... Mà là thầy
thật. Hồi đó có hai ông đại sư về
quốc ngữ, là ông Trương Vĩnh Kư và ông Paulus
Của, tức là Huỳnh Tịnh Trai. V́ mỗi ông có làm ra
một bộ tự vị tiếng Annam. Các ông cũng là
học tṛ trường bên Đạo mà ra, cho nên các ông
viết chữ quốc ngữ y như người bên
đạo, nghĩa là viết đúng. Hồi bấy
giờ chắc người Nam Kỳ phát âm cũng vẫn
là không đủ cũng vẫn là lẫn t với c,
lẫn có g với không g, lẫn dấu ngă với dấu
hỏi, song le các ông viết ra th́ phân biệt đâu ra
đó, v́ vậy các ông mới dám làm tự điển. Mà
tự điển của các ông sau rồi trở nên
mẫu mực cho người Annam, ai cũng phải dùng,
dùng đến cả phía Bắc Trung Kỳ và Bắc
Kỳ là miền chữ quốc ngữ đă do đó mà
sanh ra. Mà tôi tưởng, không những hai ông đại
sư ấy, lúc bây giờ người Nam Kỳ hễ
đă viết quốc ngữ là ai cũng phải viết
đúng. V́ hồi đó người ta học quốc
ngữ một cách nghiêm. Bây giờ thử t́m một vài
cuốn sách xuất bản thời ấy mà coi, cuốn nào
in cũng hẳn hoi, cho đến dấu ngă dấu
hỏi cũng phân minh".
Sau khi than phiền về t́nh
trạng viết loạn xạ ngày nay (hồi 1929) và
đưa hai ông Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng
ra mà phê phán, Phan Khôi kêu gọi:
"Tôi lấy làm thương
tâm quá. Tôi không hiểu một người đă xưng ḿnh
là Annam thậm chí ḿnh là nhà văn học Annam, sắp hàng ḿnh
vào nhà ngôn luận, nhà học thuật, dám tḥ tay viết
cuốn sách để đời, mà mặt chữ c̣n
quấy, th́ mới nói làm sao? Tôi không biết một
người Pháp hay một người Tàu mà viết
chữ bổn quốc họ c̣n quấy mặt chữ
như ḿnh vậy th́ họ có thể lên mặt mà tự
đắc được chăng? Cứ cho việc này là
việc nhỏ mặc ai, chớ tôi, bụng dạ hẹp
ḥi tôi cho nó là việc lớn".
Này hỡi người Annam ta,
hăy bắt đầu hôm nay học viết chữ quốc
ngữ cho đúng đi. Có vậy mới xứng đáng là
người Annam.
Những người đàn
ông gần già gần chết mà họ viết quốc
ngữ sai thời bỏ họ đi. C̣n đám thanh niên
sợ họ sau này, các cô có quyền uốn nắn
được. Các cô hăy học viết đúng đi
trước đă rồi các cô hẹn nhau, rày về sau,
kể cả các cậu, cậu nào viết chữ quốc
ngữ đúng th́ các cô hăy cho bưng trầu, rượu
đến nhà, c̣n không th́ đuổi họ đi cho
rảnh. Thà ở góa cả đời, chớ đừng
lấy anh chồng không biết viết. Đó rồi, rày
sắp tới, người đàn ông Annam nào muốn có
vợ th́ phải cặm đầu học chữ quốc
ngữ. Không bao lâu mà họ biết viết hết. Ấy
là nhờ các cô vậy". Phan Khôi.
Số 30 (28-11-1929):
Phan Khôi tiên sanh nhă giám: tiên sinh
từ hồi vào Nam Kỳ đến nay coi ư muốn
cải lương nhiều việc, nhứt là cách làm
văn, cách viết chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ
v.v... Tôi thấy tính tiên sanh về mục đích ấy
lắm, nhưng tính bao nhiêu sau khi đọc suốt các bài
của tiên sanh càng buồn bấy nhiêu. Buồn cho tiên sanh
nhiều cái thuyết cầu kỳ bất hiệp chân lư.
Buồn thời buồn chớ chẳng muốn cải
lẩy với tiên sanh làm ǵ những sự không đâu vô
bổ.
... Tiên sanh nói ông cố
đạo nào bày ra chữ quốc ngữ tiên sanh chắc
một ḿnh ông ấy đem cả trí lực ra mà gây
dựng thứ chữ ấy không? Vậy chớ Hội
Giám mục ở Quảng Trị bày ra chữ quốc
ngữ lúc trước ở đâu?
Tiên sanh nghĩ rằng tên
của nghiêm quân của tôi viết ra chữ quốc
ngữ phải bỏ g mới trúng. Tiên sanh chưa rơ nguyên
ủy nên nghĩ vậy, nếu rơ lại phải phục
ngay. V́ nghiêm quân của tôi muốn viết chữ tên ra
quốc ngữ đương thời - 46 năm về
trước Việt Pháp tự điển của ông
Trương Vĩnh Kư không có, của ông Huỳnh Tịnh
Trai mới ra đời, mà không có chữ đó, nên hỏi
thăm Trương, Huỳnh các ngài quen mới chỉ cho
biết chữ Liêng là nói theo thiêng liêng đă thành văn
trong các sách Thiên Chúa giáo. Đến năm 1889, Việt Pháp
tự điển của ông Trương Vĩnh Kư xuất
bản, ông Génibrel lại mới xuất bản;
"Việt Pháp quốc âm tự điển" mới
gia nhập chữ ấy vào mà lại chia ra có g và không g.
Bây giờ tiên sanh cứ
tự điển mà cắc nghĩa chữ Liêng là nôm, và
Liên là chữ. Xét lại, vương là vua với
vương vấn viết một chữ; quốc là nước
và chim quốc cũng viết như nhau; nôm chữ lẫn
nhau, tự điển sao vậy cả. Có sao đâu...
Văn tự nôm cũng vậy, khi thêm viết vầy, khi
bớt viết khác. Đâu có duyên cớ. Ví như chữ
khôi, quí danh, mượn thêm ở trên đầu một
chữ đầu ???, bên tả chữ nhân đứng ???,
dưới đích chữ y rách ???, bỏ chữ
đầu ??? đi được. Hoặc bỏ chữ
??? mà thế chữ thôn ??? vào cũng được.
C̣n quốc ngữ, chữ tàn
tật, giùng ḿnh, cằng rằng v.v... có g hay không g
chẳng thất luật chi cả. Bất quá chia ra
tiếng N và T mà thôi.
Ôi văn tự quốc
ngữ! Mẹo luật không ai bày! Hàn lâm viện đâu? mà
cứ bắt bẻ g hay không g, c hay là t. Ngặc lắm, thôi
bây giờ xin quí hồ viết cho thông nghĩa, đừng
"dốt dát" như tiên sanh đă nói xót mà chính chỗ
đó phải nói sót phải không?
... Thật khổ cho tiên sanh,
cắt cớ bày các cách kén chồng cho các cô sao mà "quê
mùa" thái quá. Thật th́, các tấn sĩ, cử nhân, tú
tài từ nhỏ chí lớn, mấy lúc mảng lo học
pháp văn, nên chắc có cụ lo làm chi viết chữ
quốc ngữ cho được đúng của tiên sanh...
... Rốt hết tôi tặng
tiên sanh: khả Lân lao tác khách, thả mạc háo vi
sư" - Đặng Công
Thắng con ông Đặng Thúc Liêng.
Số 31 (5-12-1929)
... "Tôi th́ nói chữ
quốc ngữ phải viết đúng"...
Theo lời ông Thắng th́ cái
chữ "Liêng" tên ông thân ông, là do ông Trương
Vĩnh Kư và Huỳnh Tịnh Trai biểu viết như
vậy, v́ hồi đó chưa có tự điển nào
hết. Sự đó là việc riêng nhà ông, thiệt hư
thế nào tôi đâu có biết...
- "Tôi đă nói rơ ràng
nếu là chữ ?? th́ phải viết là Liên mới
đúng, c̣n viết là "liêng" th́ trật, v́ hai chữ
phát âm không giống nhau, bởi vậy mới một chữ
không g, một chữ có g không cần phải nói theo tự
vị làm chi, cho ông lấy cớ hồi đó chưa có
tự vị, nay tôi chỉ nói gọi rằng: hễ ai
biết phát âm cho đúng th́ trong khi thấy chữ ??
phải viết quốc ngữ là Liên chứ không viết
Liêng được. Tôi nói thế mà ông lầm ra nghĩa
khác, ông nói rằng tôi cắt nghĩa chữ Liêng là nôm và
Liên là "chữ" rồi đem phân b́ nói chữ
"vương" là vua và "vương vấn",
chữ "quốc" là nước và "chim
quốc" mà nói rằng nôm chữ chế lẫn nhau,
không sao đâu, th́ cái đó là ông nhầm.
Tôi xin cắt nghĩa chỗ
đó. Và, nôm chữ có khi lẫn nhau thực như
"vương" chữ "quốc" ông nói đó
th́ vốn là lẫn nhau, v́ nó phát âm như nhau: đó là
đồng âm mà khác nghĩa. C̣n chữ Liên và Liêng phát âm khác
nhau đó là khác âm và khác nghĩa. Tôi nói đây là vấn
đề phát âm, chứ không về cái vấn đề nôm
với chữ...
... ông nói tên chữ Hán như
tên Khôi tự mà cũng có thể thêm bớt là không
được. Tên tôi là ?? chớ không phải ?? và ??
như ông biết. Khôi c̣n nhiều chữ đồng âm
nữa, mà hễ chữ ấy, chứ có đâu thêm bớt
được như ông tưởng lầm. Vả
lại nếu chữ ?? th́ phải viết ?? bằng, có
lẽ nào bỏ chữ ?? mà thế chữ ?? vào
được? Nếu ông viết như vậy th́
người ta phải cho ông là không thuộc mặt
chữ. Thiệt t́nh nếu ông ít thông chữ nho th́ đừng
nói bướng mà người ta cười. Hoặc
giả ông có ư đem cái tên ?? là "thằng giặc
Khôi" mà kiêu ngạo tôi nữa chăng? Nếu quả
vậy cũng không hại chi.
Đến như ông nói
"Văn tự quốc ngữ, mẹo luật không ai
bày. Hàn lâm viện đâu. Bây giờ quí hồ viết cho
thông nghĩa. Tôi xin ông đi, đừng nói ngang vậy
không được... Bởi nó không có mẹo luật nên
ḿnh phải làm cho có mẹo luật, không có Hàn lâm viện
th́ ḿnh làm cho có Hàn lâm viện...
Ông nói "quí hồ viết
cho thông nghĩa" là có ư không cần đúng chữ.
Trời ơi! Ông lầm quá. Thế gian có thứ chữ
nào viết không đúng chữ mà lại thông nghĩa
được? Cho tôi vô phép nhắc lại cái tên của
lệnh nghiêm một lần nữa. Chữ ?? nếu là tên,
th́ viết Liêng c̣n bỏ qua được, chớ nếu
gặp chữ ?? hay là ?? mà ông cũng viết là Liêng th́ theo
thức giả và tự vị là bất thông đó ông.
Tôi lấy thêm một ví dụ
nữa để ông càng hiểu hơn. Như chữ
"chẳng lẽ" nghĩa là chẳng có lẽ mà
nếu theo lời ông viết ra "chẵn lẻ"
cũng được. Nhưng nếu viết theo chữ
sau đó th́ lại thành ra nghĩa khác, nghĩa nó là đôi
và chiếc (pair et impair). Tự người nào phát âm không
rành, th́ viết ra có khác, mà đọc ra cũng khác, song
người phát âm rành th́ phải đọc ra khác và
hiểu nghĩa cũng khác luôn. Vậy mà ông muốn
đánh xô bồ làm một có được đâu. Phan Khôi.
Số 34 (26-12-1929)
Muốn viết chữ
quốc ngữ cho đúng phải phát âm cho đúng. Lê Vinh
Diệu
Sau đây tôi xin kể
những xứ nào nói trật chữ ǵ và phải bắc
chước xứ nào đặng phát âm cho đúng.
1. Ở Bắc Kỳ, nói
lộn xộn ch với tr và gi, lộn vận s và x,
vận r với d, vận nh với l. Vậy th́ Bắc
Kỳ phải bắc chước những tỉnh Nghệ
Tỉnh vô tới Quảng Ngăi mà sửa lại mấy
vần đặng nói cho đúng.
2. Ở Thừa Thiên (Huế)
nói lộn xộn nh và gi, vậy phải sửa vần
ấy theo mấy tỉnh khác.
3. Ở Quảng Nam, cả
Quảng Ngăi nói lẩn lộn vận ăn với en,
ăc với ec, vậy phải sửa theo Bắc Kỳ
hai vần này.
4. Từ B́nh Định vô
tới Nam Kỳ, nói lộn xộn v và d, qu và h, it và ich, uc
với ut, un với ung, vậy phải bắt chước
những tỉnh từ Quảng B́nh sắp ra Bắc
Kỳ mà đọc các vần ấy cho trúng.
5. Từ Quảng Trị
sắp vô Nam Kỳ đều nói trật những chữ
không g ở sau đuôi như an, ăn, ân v.v... những
chữ có t ở sau đuôi như at, ắt, ất v.v... và
dấu ngă. Lại lộn ui với uôi, ưu với
ươu, iu với iêu, d với gi. Vậy những
khoản ấy phải theo giọng từ Quảng B́nh
sắp ra Bắc Kỳ.
6. Từ Bắc chí Nam phần
nhiều hay lầm lộn chữ ao với au, an với ân,
ai với ay, ay với ây, ap với ăp, ăp với âp.
Vậy cả thảy phải bắt chước hai
tỉnh Quảng Nam với Quảng Ngăi, mà đọc cho rơ
những chữ ấy.
Vấn đề viết
chữ quốc ngữ. Ngọc Uổng (thư gởi Phan
Khôi)
... Nói tóm lại, trên sách
dạy rằng mấy tiếng Annam đồng âm mà khác
nghĩa, ḿnh cần phải biết phát âm cho trúng, th́
viết mới trúng. Chết chưa! Em chưa từng
đi Trung Kỳ Bắc Kỳ lần nào, mà em cũng không
biết chữ hán nào hết làm sao mà phát âm cho đúng? Em
thấy trong bộ "Đồng âm tự vị"
của ông Nguyễn Văn Mai, những chữ đồng
âm kể đến số ngàn, làm sao mà nhớ cho hết
được. Nếu muốn nhớ, phải học
thuộc ḷng, cha chả, mà em nghe người ta nói: cái
đồ học thuộc ḷng, ngồi ngâm nga tối ngày là
đồ vô dụng, thế th́ làm sao bây giờ?
... Mà theo ư em tưởng,
viết quốc văn chẳng những là cần phải
viết cho trúng mà thôi, có lẽ lại c̣n phải viết
câu cho trúng nữa mới được.
Em c̣n nhỏ. Em sẽ bắt
chước tiên sanh mà kén chồng. Em sẽ chọn ai
viết quốc văn đúng đắn th́ em mới
ưng. Nhưng mà em nói viết quốc văn cho đúng là
em buộc viết chữ cho trúng, dùng chữ cho trúng và
chấm câu cũng cho trúng nữa mới được,
chớ viết chữ trúng mà dùng chữ với đặt
câu không nên thân, th́ em cũng khinh bỉ lắm. Tiên sanh
nghĩ sao?
* * *
Ông Phan Khôi nặng lời
như thế, làm sao không khỏi mất ḷng người
miền Nam, nên lúc đó đă có người nói thẳng ra:
cho ông vào làm ăn ở đây, lại c̣n lên mặt dạy
đời!
Phan Khôi có thái độ khinh
chê, do một mặc cảm tự tôn, nên không chịu t́m
hiểu xem người Nam Kỳ tại sao hay viết sai
chính tả; chắc hẳn không phải chỉ v́ ấu
trĩ hay lười nhác nhưng phải có lư do ǵ đó
như một nhà "lư luận" Nam Kỳ đă phát
biểu trước đây 15 năm. Trong bài "Văn
chương khảo luận" về cách dạy chữ
quốc ngữ, Nguyễn Ngọc Ẩn đă viết:
"Tiếng nói làm sao giọng đọc làm vậy. Ở
ngoài Bắc, người ta quen nói nhiều giọng, cho nên
mới có phân biệt dấu hỏi dấu ngă, chữ C và
chữ T, sau rốt th́ chẳng nói làm chi. Trong Nam Kỳ, tôi
tưởng ít ông nào tự nhiên (nghĩa là nghe người
ta nói thường) mà phân biệt mấy cái lắt léo
đó cho đặng. Trong mấy ông mà rơ thấu cái hít hà
tẩn mẩn đó th́ tôi tưởng khó cũng có
nhiều ông nhờ coi sách thấy sao hay vậy. Mà thiệt
mấy ông ấy cũng là có công nhớ, v́ tiếng nói
ở trong Nam Kỳ không có thấy phân biệt mấy
sự khó ḷng ấy chút nào. Tiếng Bắc Kỳ phải
hơn hay tiếng Nam Kỳ phải hơn? Tôi không
đủ trí mà biện luận. Tôi xin nói một
điều là tiếng nói trong này, tuy nhiều ông cho là thất
điển, song người người cũng hiểu
cũng thông. Nhiều khi tôi lại muốn nói theo cách trong
này hơn, không phải là chê tiếng ngoài Bắc (dám nào)
chẳng qua là không muốn nằng nằng quyết một
biện phân mấy cái hít hà nói trước mà thôi. Như
muốn nói tiếng đứt (cắt đứt) cho trúng
điệu văn chương, th́ phải viết chữ
ở đằng sau và đọc đủ... it cho dài
như là ăn kẹo, cắn nó dẻo nhẹo, kéo ra dài
nhằng không muốn đứt; c̣n nói theo cách
thường, th́ bất luận c, t, nói mau gọn gàng nghe
ra phải tuồng đứt tốt, nói chi cái câu
"nước mắm chế lộn mỡ" của
chúng bày đặt diễu chơi. Đập chết tôi,
tôi cũng nói theo giọng Nam Kỳ, đọc mỡ
lớn tiếng như là mở cửa, bởi v́, e theo
văn chương lắm, mà mất cái lịch sự
đi chăng... Chữ quốc ngữ mà khó viết cho
trúng, nghĩa là cho đẹp ư một hai ông là bởi
tiếng th́ nói theo giọng một nơi, mà chữ th́ theo
giọng một ngă, chớ không có cái chi là kỳ diệu,
ước sao cho một ngày kia, trong các trường nhà nước
sẽ nhứt định cho viết chữ quốc
ngữ không phân biệt mấy cái lắt léo nói trên đây.
Pháp văn kia, tuy là có mẹo luật rành rành mà c̣n không câu
chấp một hai chữ viết sai thay (tolérances
orthographiques). Huống chi chữ quốc ngữ ḿnh, không
thấy luật mẹo, nói một đàng lại buộc
viết một ngă, e thập niên đăng hỏa cũng
khó mà hay". (Nông Cổ mín đàm, 16 và 23-3-1915).
Vào cuối năm 1915,
trước vụ Phan Khôi 15 năm, đă xảy ra một
vụ đụng chạm đến tự ái người
Nam Kỳ c̣n nặng nề hơn do ông Phạm Duy Tốn
gây nên.
Phạm Duy Tốn và vụ
"Văn minh giả"...
Mùa hè năm 1915, Bắc Kỳ
bị lụt lớn: "Nhiều chỗ bị lụt
thiên hạ phải nghèo nàn đói khát, thường bữa
thấy người ta kéo nhau ra tỉnh mà ăn xin. Tại
Bắc Ninh, Ninh B́nh và Hà Đông nhiều chỗ ngập
đường xe lửa đi không đặng. Cũng có
nơi thiên hạ phải chết trôi chết đuối
nhiều. Vua Annam đă gởi cho quan Chánh thống sứ
Bắc Kỳ 10.000 đồng đặng chẩn cứu
những kẻ bị thiên tai" (Nam Kỳ địa
phận số 347 16-9-1915 trang 573) c̣n Hội đồng
quản hạt Nam Kỳ gởi tặng 20.000 đồng.
Cũng có nhiều hội nghĩa khác (NKDP số 356,
18-11-1915, trang 718). Nam Kỳ D.T. số 349 ngày 39 ??? -9-1915
đưa tin "Quyên tiền giúp kẻ bị lụt
tại Tonkin". "Nhơn khi M.M. Nguyễn Đắc,
Phạm Duy Tốn chủ bút Lục tỉnh Tân văn cùng
nhiều người khác nữa ở Bắc Kỳ
ngụ tại Saigon. Xin được quan Nguyên soái mở
cuộc nghĩa quyên mà trợ giúp những kẻ mắc
nạn v́ lụt tại Bắc Kỳ, th́ M. Bùi Quang Chiêu,
giám đốc cánh nông bác học và ông huyện Trang hiệp
ư mời những ông đại nhơn và các viên quan
chức sắc các ty các sở Saigon và Cholon cùng Gia
Định hiệp tới tại Hội Khuyến học
Nam Kỳ chiều ngày 11 Septembre đặng lo lập thành
hội nghĩa quyên Nam Kỳ mà xin phép chính phủ
để giúp M.M. Đắc và Tốn trong vụ quyên
tiền các nơi ngoài tỉnh. Chiều ngày ấy các hàng
đại nhơn cùng viên quan Annam trên tới đông. M.
Phạm Duy Tốn thay mặt đồng bào xứ Bắc
mà đọc bài diễn thuyết, kể lại các sự
tai nạn tại Bắc Kỳ... cùng xin ai nấy
đồng dạ hảo tâm lo việc cứu giúp "...
Hội được thành lập do Bùi Quang Chiêu làm chánh
hội trưởng, Phạm Duy Tốn là phó thư kư.
Chỉ quyên những người có mặt đă
đặng hơn 200 đồng và tiền quyên cả ngày
được 3.135đ83". Trong địa phận
Đức Cha Saigon vừa nghe tin ngoài Bắc bị
khốn nạn th́ cũng đă gởi tiền bạc mà
cứu cấp".
Đồng bào Nam Kỳ và các
giới có vẻ sốt sắng quyên góp ủng hộ,
nhưng ông Phạm Duy Tốn không hài ḷng với số
tiền ông mong muốn nên đă viết trong Lục
tỉnh Tân văn số 401 một bài tỏ ư chê trách
người Nam Kỳ không có văn minh v́ đă không giúp
đồng bào Bắc bị nạn lụt mặc dù có
tiền của nhiều. Bài của ông Tốn đă gây ra
nhiều phản ứng dữ dội, kéo dài mấy tháng
trên Nông cổ mín đàm. Chúng tôi chỉ trích dẫn một
vài đoạn làm chứng từ.
Trong mục "Nhàn
đàm" (số 18 Nov.) Tân Dân Tử dựng một
cuộc nói chuyện tay đôi giữa Ất và Giáp nhân
vụ Phạm Duy Tốn viết bài "Văn minh giả".
Giáp: Người lục
tỉnh đă hảo tâm như vậy, mà người
Bắc có cám ơn không?
Ất: Sao không có. Cám ơn
lắm chứ! Mới đây ông Phạm Duy Tốn là
người Bắc Kỳ có đặt một bài văn
minh giả mà tỏ dấu cám ơn chúng ta lắm.
Chẳng những cám ơn mà c̣n cho mấy ông mấy thày
một vật quư báu biết dường nào.
Giáp: Vật ǵ vậy anh?
Ất: Ấy là đồ
ngoài Bắc, ông Phạm Duy Tốn kêu là cái mặt nạ giả
văn minh để đeo làm dấu tích, và lại
mừng cho mấy ông thầy là văn minh lại cái
nữa...
"Lúc ngài c̣n ở ngoài
Bắc, lẽ khi ngài cũng lo hóa dân như vậy, dạy
dân Bắc văn minh thuần thục rồi, động
ḷng ngài, ngài mới vào đây, vào được mấy
tháng nay, ngài làm nhiều điều cũng quí, dạy
nhiều chỗ cũng thông, như lúc Bắc Kỳ bị
lụt bỏ chiếu trôi lên, bỏ giường trôi
xuống, đói lạnh không cùng, táp cồn này vập băi
kia, ngài ra rên xiết với người Nam Kỳ, xin
tiền mà cứu giúp bọn đồng hướng
của ngài. Khi đó trong bụng ngài tưởng dân Nam
Kỳ giàu có sang trọng, ăn no ngủ kỹ, mặc
ấm ngồi cao, lẽ nào không thương người
đồng bang lâm biến, chẳng dè sự tưởng
của ngài có chỗ chi sai lầm nên nay ngài mới lấy
chữ văn minh giả mà chỉ dân Nam Kỳ rằng:
"Ta nghĩ văn minh như vậy, mà trong lúc không có
một mảnh đồng xu, không có một chút học
thức, th́ sao lại có gọi là văn minh?".
Số 25 Nov. 1915 đăng
một bức thơ kư tên Ngô Thế Truyền, của
một tay hầm than ở Biên Ḥa. "Nguyên là tôi đi
chợ có ghé tiệm M. Sự mua nhựt tŕnh Lục
tỉnh Tân văn coi thấy lời luận của ông
Phạm Duy Tốn nói chuyện văn minh lại cái, văn
minh giả, họ xúm coi rồi cười um, nói mấy
ông mặc đồ vắn quần chật đi giày tây
không có dương vật, họ khuấy chơi với
nhau, người này rờ của người kia, té ra ai
cũng có dương vật dài hết, không ai lại cái.
Tôi thầm nghĩ là ông Phạm Duy Tốn nói gạt đàn
bà con gái nhà quê mấy cô lôi thôi tưởng có ḿnh ông có
dương vật sao chớ!"
Số 9 ngày 9-12-1915 đăng
bài của một độc giả ở Bến Cát
đại ư nói Phạm Duy Tốn chẳng có ư nói về Nam
Kỳ đâu, chỉ v́ vào đây thấy văn minh của
bọn ta và thấy ngoài đó không có nên ông buồn mà
viết vậy thôi. "Chớ tôi thường thấy
mấy cậu ngoài nớ ăn mặc ngộ quá, thiệt
cũng đáng bực văn minh tân đợi. Bận áo
tây, quần tây, đi giày tây hay là hàm ếch da láng, trên
đầu th́ c̣n để tóc vấn khăn đen. Hễ
quen biết nhau th́ nắm tay nhau bù sua rồi cập tay nhau
nói dóc om ṣm. Tiếng nói th́ pha chè nửa Annam, nửa
francais, nửa chararia (tiếng nhà bếp), chẳng
biết ông Tốn gọi văn minh ấy là chi há?"
Vụ lời qua tiếng
lại trở thành nghiêm chỉnh hơn với những bài
bàn về thế nào là văn minh, lôi cuốn hầu hết
các chủ bút, nhà báo nổi tiếng thời đó
(Lương Khắc Ninh, Trương Duy Toản, Nguyễn
Kim Đính, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu,
Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Ngọc Ẩn,
người có Tây học cũng viết một bài dài bàn
về văn minh. Có lẽ cả Saigon - Lục tỉnh
chỗ nào cũng bàn chuyện ông Tốn.
Số 13 tháng 1 năm 1916
đăng bài của ông Lê Đ́nh Chánh nhan đề Tân
vấn luận: "Tôi nghe văn chương gốc
ở Bắc Kỳ, Nam Kỳ không có văn chương
theo như lời ông Tốn đă nói ở Chợ Lớn,
th́ bài văn minh giả của ông rất phải, v́ ông là
người Bắc vào, tài ba lỗi lạc, Nam Kỳ không
người dám sánh, dầu ai cũng phải khâm phục
tài ông".
Tôi hỏi Lê Hoằng Mưu
gốc chữ văn minh ở sách nào mà ra. M. Lê Hoằng
Mưu cười và đáp: "Chưa biết cái
đấng tài danh Bắc Kỳ vào đây đa văn
quảng kiến, có thấy sách nào chăng, chúng tôi thật
chưa thấy, lại cũng chưa từng nghe, hai
chữ văn minh mới nghe từ ngày loạn trào Thanh
đến nay..."
Ông Tốn chê Nam Kỳ không có
văn minh, văn chương "Xem trí ư của các
đấng đại danh th́ biết như ông
Trương Vĩnh, Trương Minh, ông Dũ Thúc v.v... nào
có nói luận văn minh, mà tự nhiên có dạy văn minh
trong đấy; cho đến Nông Cổ ngày nay cũng c̣n
nói. Ông Tốn mới vào, xem chưa kỹ, nên mới nói
đem văn minh vào rảy khắp lục châu, mới
mở văn minh nơi quần áo. Xét kỹ lại th́ ông
Tốn từ ngày vào đây, chưa luận bàn chi gọi là
văn minh. Chưa chỉ dẫn mà nhạo báng
người th́ quả là ông Tốn lầm rồi
đó".
Số 27-1-1916 đăng bài
"Nói về chuyện văn minh". "Ở Nam
Kỳ có nhiều người học cả Tây, Tàu
giỏi, đủ các thứ bằng, phải biết
văn minh là ǵ - Ông Tốn vào đây khoe tài, khoe chữ
(tiếng Bắc) người có ra Bắc nghe th́ hiểu,
người không ra th́ sao hiểu nổi! Nếu nói:
"Sớm mai tôi đi ra
chợ Cụ
Vai vác cái dù son tay cầm
chạc su chấm cái lỗ khu kêu cái ọt, trúng con thóc lóc
ở trên cái chà khoe bố xuống ở bố, như
vậy th́ ai hiểu cho thấu!"
... Xin chớ có chê bai những
người đốn củi hầm than mà mang tội
lỗi.
Trong Nam Kỳ ta đây,
nhiều kẻ làm nghề đó mà làm chủ, chớ
chẳng phải cầm kềm cầm búa mà đốn, đừng
có khinh khi là kẻ vơ phu, hà tiện. Các ngài tưởng
như ngoài Bắc không có nhà giàu hay chữ mà làm nghề
đó sao? Tại các ngài nhớ mấy câu phương ngôn
con nít ở Bắc hát nên tưởng là ở trong này
cũng vậy chăng?
Hát như vầy: Tôi là tôi ḥ
khoan
Con gái kè mợ, hồ khoan
Tôi đi bán rượu, hồ khoan
T́nh cờ gặp anh, hồ khoan
Tôi là, tôi là, hồ khoan
Con mẹ bán than, hồ khoan
Được lăi vô vàn, hồ khoan
Cái đít nhọ nhem, hồ khoan
Tôi nghe các ngài xưng tài
học thức nhiều, cho nên tôi cúi xin luận mấy
khoản nói trên nớ. Dương Văn Giáo, thương
biện tại Sở Thương Chánh Saigon.
Văn Bắc Kỳ:
Ba năm sau vụ Phạm Duy
Tốn, Nông Cổ mín đàm đăng một bức
thơ ngỏ gửi cho các báo Annam về phản ứng
bất măn của người đọc ở Nam Kỳ
đối với thái độ khinh bỉ người Nam
được bày tỏ trong các báo xuất bản ở
Bắc Kỳ.
Văn Bắc Kỳ. Lời
ngỏ cho các báo Annam. NCMD 26-6-1919
"Xưa rày bổn báo
thường xem báo giới Bắc Kỳ thấy luận
nhiều bài thiệt là khinh bĩ người Nam Kỳ thái
quá; như "Trung Bắc tân văn" bàn luận về
quốc văn th́ cho văn Nam Kỳ là văn hát bội;
c̣n Nam Phong bài của M. Phạm Quỳnh "Một tháng
ở Nam Kỳ" th́ cho người Nam Kỳ có
lượng mà không có phẩm; người Nam Kỳ
những nhà giàu có phần đông toàn là ngu ngốc cả
v.v...
Đó, phẩm lượng
thái độ và cách cư xử đối với
đồng bào của người thay mặt cho dân
đất Bắc là thế đó.
Những lời khích nhau
bỉ nhau mà đăng báo như thế th́ dẫu cho
thần phật cũng phải bất b́nh. Nhưng vậy
mà bấy lâu bổn báo cũng làm thinh nhẫn nhục mà
không đành hở môi, là v́ bổn báo vẫn để ḷng
cổ động đồng bang chữ hướng
về đều liên lạc đoàn thể với nhau, làm
sao cho ba kỳ hiệp một, đấu cật nhau,
diều dắc nhau lên đường tấn hóa, nên
chẳng nở buông lời bài bác nhau mà hại niềm ḥa
khí.
Chẳng dè mà báo giới
Bắc Kỳ vẫn cứ chấp nê, tự kiêu tự
đắc, vô cớ sanh đoan, dùng những lời
lộng liên vô lễ thái thậm mà đối đăi
với người Nam Kỳ. Thế bất đắc
dĩ nên bổn báo phải hở răng mà chỉ rơ cái
bịnh kiêu căng vô lễ của các ngài đó thôi,
chớ những điều nhàm, những chuyện xằng
bậy như vậy nếu nói ra chừng nào th́ lại
càng hại niềm ḥa khí chừng nấy, đă chẳng
ích chi cho quê hương mà rồi dân ba kỳ lại c̣n sinh
đố kị nhau cừu oán nhau, th́ c̣n trông chi là
thương yêu nhau, liên lạc nhau, mà làm cho tam kỳ
thống nhứt được. Ngửa nhờ
đồng bào chư quân xử xét cho Nông Cổ mín
đàm".
Phạm Quỳnh: Một tháng ở Nam
Kỳ. Nam Phong số 17 (1919)
Có lẽ những ư kiến
nhận xét của Phạm Quỳnh đă có ảnh
hưởng mạnh trong giới trí thức Bắc Hà
thời kỳ này tạo ra những thiên kiến quen thuộc
về sau đối với người miền Nam.
- Trí thức Nam Kỳ mất
gốc: "Dự tiệc thấy có người vào dân Tây
toàn nói tiếng Tây". Coi đó th́ biết các bậc
thượng lưu trong Nam Kỳ Tây hóa đă sâu lắm,
hầu như không c̣n chút ǵ là cái phong thể Annam nữa.
- Sinh hoạt văn hóa
nhiều về lượng nhưng kém về phẩm
chất: "Kể đến báo ở Nam Kỳ th́
nhiều hơn báo Trung, Bắc Kỳ về cái
lượng, nhưng c̣n cái phẩm có được
xứng đáng với cái lượng không? Điều
đó th́ chưa dám chắc vậy. Xưa nay phàm cái ǵ muốn
cho nhiều tất giá phải kém không thể vừa
nhiều vừa tốt cả được. Muốn
giữ được cho cái phẩm cao, tất phải
trạc cái lượng lại mới được.
Ấy công lệ từ xưa vẫn thế: Nghề làm
báo, làm sách có thể ra ngoài được cái công lệ
ấy không? Thiệt tưởng rằng không. Cho nên xét ra
các đồng bào ta trong Lục tỉnh h́nh như có ư
trọng cái lượng hơn cái phẩm vậy. Đó
cũng là một điều khuyết điểm học
giới, báo giới, xứ Nam Kỳ.
Về sách cũng thịnh
lắm, có phần lại thịnh hơn nghề làm báo
nhiều. Tuy vài năm gần đây đă bớt đi
nhiều, mà trong khoảng năm mười năm về
trước các số những sách quốc ngữ xuất
bản ở Saigon không biết bao nhiêu mà kể. Thứ
nhất là những bản dịch các tiểu thuyết tàu
cũ như Tam quốc, Thủy hử, Chinh đông chinh
tây, Phản Đường, Tùy Đường, Đông
châu, Phong thần, Đại hồng bào, Tiểu hồng
bào v.v... Nếu sưu tầm cả lại th́ làm
được một cái thư viện nhỏ. Những
tiểu thuyết Tàu tự tám mươi đời,
triều ấy, văn chương đă chẳng ra ǵ mà
truyện th́ toàn những chuyện huyển hoặc quái
đản, của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời
xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá
những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch
nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ
cũng khả kính thay.
Không trách các tư tưởng
quốc dân những ch́m đắm trong sự mê hoặc
không cùng, có khi sinh ra những việc xuẩn động
hại đến cuộc trị an trong xă hội v́ đó.
Có người nói việc phá khám Saigon năm nọ cũng
là bởi cái di độc của các tiểu thuyết Tàu mà
ra, tưởng không phải là nói quá vậy. Cả ngày
cả đêm những ca tụng cái tài ông Tiết Đinh
San, ông Tiết Nhơn Quí, hay những ông tướng
kỳ khôi từ đời hồng mang nào, trách sao trong trí
không loạn lên mà muốn làm thực những việc ḿnh
thường đọc thấy trong truyện? Càng
những bọn hạ lưu hung hăn lại càng dễ
nhiễm hơn cả. Coi đó th́ biết văn
chương không phải là không có liên hệ đến nhân
quần, các nhà làm sách há chẳng nên cẩn thận lắm
ru?...
Ấy là các tệ tiểu
thuyết cũ dịch của Tàu. Đến cái tệ
của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay
th́ lại thậm hơn nữa, v́ cách đặt
để đủ làm cho bại hoại phong tục,
điên đảo luân thường vậy. Tôi biết có bộ
tiểu thuyết cực là dâm bôn mà lại rất là
thịnh hành trong bọn phụ nữ coi đó th́ biết
cái hại sâu biết dường nào. Gia đ́nh tan cũng
v́ đó, xă hội nát cũng v́ đó, cái tương lai
nước nhà nguy hiểm cũng v́ đó, các nhà làm sách có
nghĩ tới không?"
Phạm Quỳnh nh́n nhận: "Sách
báo nhiều như thế, mà bán được chạy, có
nhiều người mua và có tiền thừa mua sách"
- một điều mà Phạm Quỳnh thấy ngoài
Bắc không có - nhận định như vậy
để rồi trách: "cái bậc trí thức trong
lục châu không biết khéo lợi dụng cái cơ hội
tốt ấy mà đặt ra những sách vở hay có ích
cho phong hóa, nỡ để cho các ḷng ham đọc sách, ham
mua sách của người dân ấy ngập vào những sách
vở vô vị, hoặc tầm bậy không ra ǵ, thật
uổng quá". Thái độ trịch thượng
mỉa mai khinh bỉ của Phạm Quỳnh c̣n bộc
lộ rơ hơn trong những bài trả lời bài Nguyễn
Háo Vĩnh, viết từ miền Nam, gửi Nam Phong phê phán
Nam Phong dùng nhiều chữ nho.
... "Nay có một ông Nam
Kỳ bàn về các vấn đề ấy một cách
rất kỳ khôi, đọc đến không thể
nhịn cười được. Tuy lời lẽ có
lắm chỗ quá đáng nôm na cha mách qué. Công bố một
áng văn chương như cái thư của ông Nam Kỳ
đó, không những không tốn ǵ đến danh dự
của bổn báo mà thực là khiến cho bổn báo
lại có thể tự cao được một chút".
Nhân việc Nguyễn Háo Vĩnh đề cao Trương
Vĩnh Kư "mượn cái xác la tinh mà dụng hồn
của tiếng Annam", Phạm Quỳnh đánh giá
Trương Vĩnh Kư: "Ông Trương chẳng qua là
một nhà làm sách giáo khoa thường cho con nít học mà
thôi, đă có công nghiệp ǵ với Tổ quốc, đă
từng bao giờ đem cái xác la tinh mà dụng hồn Nam
Việt. Chẳng dám khinh ǵ người trước, nhưng
những bác danh sĩ nước Nam cứ như ông
Trương cả th́ cũng không lấy ǵ làm vẻ vang
cho nước lắm". (7)
Văn nghệ miền Nam không
có quá khứ
Hồi năm 1954, một
đợt người Bắc khác vào lập nghiệp sinh
sống ở miền Nam. Sau 45 năm vụ Phạm Duy
Tốn, lại có người viết văn gốc
Bắc phủ nhận văn nghệ miền Nam. Trần
Thanh Hiệp, luật sư, nhà lư luận văn học
của nhóm "Sáng tạo" chủ trương thơ
tự do, quy tụ những người viết văn
gốc miền Bắc đă nói chuyện ở Câu lạc
bộ văn hóa đường Tự do, do Phạm Xuân
Thái, cũng người miền Bắc, quản lư, về
"Viễn tưởng văn nghệ miền Nam" ngày
12-8-1960. Trong bài nói chuyện, có chỗ ông khẳng
định "Văn nghệ miền Nam không có quá
khứ". Bài nói chuyện đă gây nhiều phản
ứng thời đó. H́nh như bài nói chuyện trên không
đăng trên báo nào, chúng tôi trích dẫn mấy
đoạn ghi phản ứng của Nguyễn Phủ
đăng trong tạp chí Bách khoa số 88 ngày 1-9-1960, trang
96-99.
"Lập luận như
thế là tách rời miền Nam khỏi cái truyền
thống tinh thần dân tộc, phủ nhận tất
cả giá trị văn học, cổ truyền bao gồm
cả nền văn chương bác học và nền
văn chương b́nh dân, cô lập miền Nam thành một
thế giới riêng biệt không có lịch sử. Dầu
cố ư hay vô t́nh, một lập luận như thế -
ngoài cái tính chất nông nổi c̣n có một ư nghĩa
ngược lại đối với cái nguyện vọng
chung của dân tộc là thống nhứt đất
nước. Người ta suy nghĩ rằng ông Trần
Thanh Hiệp không hiểu thế nào là miền Nam và thế
nào là quá khứ. Thực sự, việc chối từ
đó không chỉ là v́ nhận xét nông cạn, không chỉ là
quan trọng hóa việc làm của ḿnh mà c̣n có những tác
dụng thỏa măn những nhu cầu tâm lư phức tạp
khác nữa. Cho nên ông Hiệp lại c̣n tỏ ra hoan hỉ
trước một hiện tượng như vậy. Ông
nói: "Không có quá khứ là điều đáng tiếc,
nhưng có may mắn là tiến mau lẹ!" Tóm lại qua
lập luận ấy, người ta càng thấy ông
Trần Thanh Hiệp không rơ chút ǵ về cái thực tế
miền Nam mà ông đang t́m viễn tượng. H́nh như
về phương diện địa lư, ông không quan
niệm rơ ranh giới miền Nam từ đâu giáp tiếp
đến đâu, dân số gồm những ai và trong
cốt cách tinh thần của họ văn nghệ dân
tộc đă nếp dáng thế nào. Ngoài những áng cổ
văn góp phần tạo nên phong thái trí thức của
họ, c̣n câu ḥ câu hát, những điệu tuồng chèo,
những hơi vọng cổ, bao nhiêu h́nh thái dân ca mang
tự b́nh nguyên Nhị Hà và vẳng lên từ bờ Cửu
Long góp phần xây dựng vốn liếng t́nh cảm
của họ ông cũng cố t́nh không thấy.
Người ta có cảm
tưởng rằng về văn nghệ h́nh như ông
Trần Thanh Hiệp chỉ thấy có ông và vài ba
người bạn thân của ông cộng thêm một ít bài
thơ tự do mà chỉ một số ít người trong
nhóm ca ngợi cùng nhau và trong số người ca ngợi cũng
vẫn có người tỏ ra ḿnh chẳng hiểu rơ
thơ ấy nói ǵ.
Chẳng trách đến khi có
người nghe nhắc nhở cho ông Hiệp nhớ
đến các cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Văn
Trị... th́ ông thấy ông Hiệp gật đầu. Nên
chăng ông cũng gật đầu!"
* * *
Tam Lang, trong một bài nói
chuyện với sinh viên đại học Văn khoa Saigon
về cuộc đời làm văn làm báo của ḿnh,
đoạn nói về thời kỳ vào Nam làm báo đến
xin việc một ṭa báo đă bị từ chối với
lư do báo Nam Kỳ không xài dân Bắc, v́ 99% độc giả
là người miền Nam, nghĩa là không xài kư giả
gốc Bắc. Nếu Tam Lang được biết Lê
Hoằng Mưu là người đă bị "Phạm Duy
Tốn châm chít" thế nào hồi 1915 th́ ông đă dễ
chấp nhận hơn sự thất vọng của ḿnh.
"Chân ướt chân ráo
đến Saigon, sau khi hỏi thăm đường
lối của "Ḥn Ngọc Viễn Đông" chúng tôi
xách cả khăn gói valy cuốc bộ đến chủ
nhiệm là ông Nguyễn Văn Của (tức là Huyện
Của) không có mặt, người tiếp chúng tôi là ông Lê
Hoằng Mưu, chủ bút. Vẻ niềm nở của ông
đem lại cho chúng tôi hy vọng phen này đạt
được chí lớn, nhưng ngay sau khi đó 10 phút,
chúng tôi thất vọng, khi ông cho biết: báo Nam Kỳ không
xài dân Bắc v́ 99% độc giả là người
miền Nam" (8)
"Đồng bằng sông
Cửu Long - 40 năm" - Trần Bạch Đằng, Nhân Dân số
12-9-1985
Trong loạt bài kiểm
điểm này (đăng từ 9 đến 15-9-1985)
chỗ nói về văn hóa, ông Trần Bạch Đằng
đă viết: "Một vài nhà nghiên cứu đă đi
đến kết luận sai lầm về tŕnh độ
văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, chẳng
hạn cho rằng vùng đất này không có truyền
thống văn hóa". Ông Trần Bạch Đằng
không nói rơ những nhà nghiên cứu kể trên là ai, phần
chúng tôi có đọc lác đác đâu đó một số ư
như: lớp người đầu tiên đến vùng
này là nông dân, lính thú nên "cái vốn chữ nghĩa
của họ không dầy dạn là điều tất
nhiên. Trên vùng đất mới, người hay chữ ít
hoặc không có, thiếu trường học, sinh hoạt
văn hóa khác cũng giản đơn".
... "Nông thôn Nam Bộ không
chịu ảnh hưởng của Nho giáo như nông thôn
miền Bắc hay miền Trung, và đặc điểm
này đều rơ ràng có tác động trong tính cách của
người nông dân Nam Bộ...".
hoặc
"Sống ở đây, tuy
kinh tế phát triển, nhưng văn hóa không thể b́
kịp với vùng Trung tâm". Tiếng nói mang nhiều tính
cách khẩu ngữ, ít được trau chuốt, như
tiếng nói ở vùng trung tâm vốn là ngôn ngữ văn
học của dân tộc từ nhiều thế kỷ
trước.
Ngoài phương ngôn Bắc
bộ ra - phương ngôn nền tảng của ngôn
ngữ văn học Việt, không có phương ngôn nào
(thí dụ như phương châm Bắc - Trung bộ)
được dùng để sáng tạo nên những tác
phẩm văn học".
Sự phủ nhận
truyền thống văn hóa được bộc lộ
rơ qua vụ tạm gọi là "Cù lao Tràm" tên một
cuốn truyện của Nguyễn Mạnh Tuấn. Sau
nhiều bài đề cao, tiếp đến nhiều bài
phê phán. Luận điểm phê phán nói chung có thể
được lược tóm như sau: Sở dĩ nhiều
nhân vật đi làm cách mạng gốc Nam bộ, sau
chiến tranh trở thành sa đọa, là v́ tự căn
bản họ là người thuộc về một
miền không có truyền thống lịch sử như Hoàng
Hà đă ghi trong bài "Nghĩ về Cù Lao Tràm", báo
Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh số 413, 17-1-1986:
"Qua Cù Lao Tràm", nông thôn
Nam bộ không có lịch sử, không có truyền thống,
chỉ có những tập quán xấu xa, dốt nát thấp
kém từ kiến thức lẫn tập quán" (trang 165). Nhận thức này,
ư kiến chủ đạo này được đồng
chí Lê Khắc Thành, Viện quản lư kinh tế ghi nhận
trên báo "Saigon giải phóng" số chủ nhật
30-6-85 là vùng đất và con người "thiếu
thốn truyền thống kinh tế lẫn văn hóa"
- "Đồng hóa nếp sống và tâm hồn chất
phác giản dị với u mê hoang dă".
"Chủ đề của
cuốn sách vượt ra khỏi cái khung của một
cuộc vận động canh cải về kinh tế. Nó
c̣n là một vấn đề xă hội, không kém phần
bức xúc nếu không phải là cấp bách hơn,
quyết định hơn nữa, trong hoàn cảnh
thực tế của xă Tân Phú (c̣n gọi là Cù Lao Tràm) và
của đồng bằng Nam bộ nói chung. Nơi đây,
thiên nhiên ưu đăi những con người sống trên
dải đất giàu đẹp này lại cực khổ
trong "thiếu thốn truyền thống" về
cả kinh tế lẫn văn hóa, và hai cái thiếu cùng có
liên quan, ảnh hưởng lẫn nhau, qua lại". Tác phẩm - kiến nghị
của một nhà văn. Lê Khắc Thành. Báo Saigon giải phóng
30-6-1985.
* * *
Qua những chứng từ
trích dẫn kể trên, ai nấy đều thấy
việc nhận định đánh giá văn học,
văn hóa miền Nam của những người miền
Bắc và phản ứng của những người
miền Nam từ 1916 (vụ Phạm Duy Tốn, cụ
thể xảy ra những vụ sớm hơn nữa, mà
chúng tôi chưa t́m ra) đến 1985 vẫn giống nhau.
Điều đó cũng cho thấy những thái độ
văn hóa này không tùy thuộc các thế hệ, các ư thức
hệ tư tưởng, thể chế chính trị...
nhưng bị quy định bởi những yếu
tố mà chúng tôi gọi là yếu tố địa lư chính
trị.
Vấn đề chúng tôi nêu
lên là một mảng văn học bị bỏ quên v́ không
biết đến (8) và bị bỏ qua v́ có biết
nhưng do một đánh giá phê phán nên đă không thèm xét
đến.
Giả sử miền Nam
hồi 1939-1940 có những Dương Quảng Hàm, Vũ
Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hoài Chân thực hiện những
bộ Văn học sử Việt Nam, Nhà văn hiện
đại, Thi nhân Việt Nam, trong đó giới thiệu
những nhà văn nhà thơ ở miền Nam ít ra cũng
bằng số lượng các nhà văn nhà thơ miền
Bắc (dĩ nhiên đây là một giả thuyết không
thể có nhưng nêu lên để thử t́m hiểu nguyên nhân
tại sao đă không thể có, có lẽ sự kiện
bỏ quên bỏ qua vẫn xảy ra, v́ thế điều
cốt yếu ở đây không phải chỉ là tŕnh bày,
chứng minh mảng văn học có đấy, phong phú
về số lượng, mà là có chứng minh
được vai tṛ lịch sử của nó về
mặt biểu lộ ḷng yêu quê hương, gắn bó
với đ̣i hỏi thống nhất đất
nước, bảo vệ văn hóa dân tộc, và giá
trị nghệ thuật của nó, dựa vào những tiêu
chuẩn khác mà thôi. Những người như Phạm
Quỳnh đă chỉ chú trọng vào cái phẩm, không
phải cái lượng, nghĩa là vào ư nghĩa, giá trị
nên không thể chịu thuyết phục nếu bây giờ
chúng tôi chỉ làm việc phục hồi mảng văn
học này về số lượng...
Chuyện nêu lên là chuyện
văn học, nhưng những vấn đề thực
sự đặt ra lại không phải văn học v́
đụng đến chuyện Nam Bắc. Chuyện Nam
Bắc bắt nguồn từ sự kiện khác biệt
giữa các miền, địa phương. Thay v́ ghi
nhận như thế, nghĩa là công nhận cái riêng
biệt của mỗi miền có nguyên nhân, ư nghĩa, giá
trị của nó mà không đánh giá hơn kém như
người ta thường làm trước sự khác
biệt về phong cảnh thiên nhiên, khí hậu, về sinh
hoạt văn hóa vật chất ăn, mặc, ở;
nhưng về sinh hoạt văn hóa tinh thần,
người ta lại đánh giá hơn kém theo những tiêu
chuẩn, lối nh́n của ḿnh, do đó mà có thái độ
khinh chê và mặc cảm tự tôn, tự ti. Có lẽ
chỉ trong giới ăn học trí thức, mới
thấy rơ rệt những thái độ khinh chê, mặc
cảm, tự tôn tự ti. Tuy là số ít, nhưng là thành
phần có uy tín quyền hành tinh thần chính trị, nên thái
độ của họ có tác động đáng kể...
Câu chuyện Nam Bắc
thời nào cũng thấy, có điều khi nặng khi
nhẹ, lúc công khai lúc âm ỉ thôi. Tờ Thanh niên, hồi
1944 nói nhiều về thống nhất ba miền và ngôn
ngữ phong tục đă ghi nhận: Tới năm 1925,
người Nam Trung và Bắc vẫn c̣n nghi kÿ và ghét lẫn
nhau như thường, tuy đồng bào ở ba nơi
đă chung đụng với nhau nhiều rồi. Gần
gũi nhau mà cứ coi nhau như người khác
nước, cứ hiểu lầm nhau và cứ giữ lèo,
giữ lái thời cũng không khác hồi nhà ai nấy
ở bao nhiêu" (10).
Thực ra ít khi người ta
nói lên trên sách báo và chưa bao giờ ai nghĩ đến
đem nó ra mà nghiên cứu một cách khoa học v́ đây là
điều hầu như là một cấm kỵ; nói ra
sợ đụng chạm, mất đoàn kết, tuy trong
thực tế hàng ngày người ta vẫn nói, làm
điều mất đoàn kết. Tại sao? Người
miền Bắc thường được coi là tế
nhị, kín đáo khôn khéo, c̣n người miền Nam là
bộc trực hay nói thẳng. Nhưng chính người
tế nhị khôn khéo lại nói làm những điều
mất ḷng, nghĩa là vụng về! Tại sao? Theo chúng
tôi hiểu, chính v́ họ thành thực tin những
điều họ nghĩ nói ra và cho rằng ḿnh không hề
có ư xúc phạm đến ai nên khi họ thấy phản
ứng, dễ hiểu lầm kẻ phản ứng có
đầu óc kỳ thị mà không biết chính ḿnh là kẻ
có đầu óc kỳ thị trước, v́ đă đánh
giá hơn kém và có thái độ đối xử thích
hợp với lối nh́n đánh giá đó... Kẻ phản
ứng, bị nghi ngờ là kỳ thị mà kỳ thị
là một điều không tốt, nên đành phải
nhẫn nhục, chịu đựng, mặc dầu
vẫn ấm ức, bực bội...
Nếu như hai bên đi
đến chỗ hiểu được điều
nấy: một bên nhận thức được chính ḿnh
là kẻ kỳ thị đấy, một bên hiểu
rằng người gây ra kỳ thị không biết ḿnh
kỳ thị, không cố ư cố t́nh ǵ đâu, v́ đây là
một thái độ có tính tập thể, vô thức do
những yếu tố địa lư chính trị của
một hoàn cảnh sống quy định th́ có thể coi
như bắt đầu hiểu nhau rồi, cũng là
người Việt Nam cả, nhưng sống ở
Bắc th́ nghĩ thế này, và sống ở Nam th́ nghĩ
thế kia; nếu người miền Bắc vào ở lâu
trong này cũng sẽ nghĩ như người vẫn
sống ở miền Nam và ngược lại. Nếu
một lối nh́n do những yếu tố địa lư
chính trị của mỗi vùng quy định, vượt
khỏi ư đồ cá nhân, nghĩa là do tính khách quan th́ có
thể t́m hiểu được một cách khoa học và
rút ra những quy luật. Vấn đề quan hệ
giữa con người và vùng đất mới tạo ra
một lối nh́n, thái độ sống có những
đặc điểm khác với lối nh́n, thái
độ sống của con người ở vùng
đất cũ không phải là một trường
hợp cá biệt chỉ thấy ở Việt Nam, mà c̣n
ở nhiều nơi khác như Mỹ châu và Âu châu, Anh và Úc,
Tân Tây Lan v.v...
Chẳng hạn, người
Âu châu thường chê người Mỹ không có văn hóa
hoặc văn hóa ấu trĩ trái lại người
Mỹ chê người Âu Châu, nhất là người Pháp
không thể làm kinh tế phát triển được, dù
tả hữu ǵ lên cầm quyền cũng vậy thôi v́
tả hữu đều giống nhau cùng có những thiên
kiến về văn hóa ngăn cản óc sáng tạo,
khả năng thích nghi với thực tế...
Người Anh chê giọng Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, chỉ
giọng Luân Đôn mới là tiếng Anh chính cống mà thôi
v.v... Có điều giữa những nước trên,
chỉ có những thiên kiến vậy thôi, không có những
căng thẳng đụng độ hàng ngày v́ phải
chung sống với nhau trong một biên giới quốc gia.
* * *
Qua những chứng từ
trích dẫn kể trên, chúng tôi ghi nhận một số
những đánh giá hơn kém đă trở thành thiên kiến
về những nếp sinh hoạt văn hóa của
người miền Nam:
1. Báo chí không có tính cách văn
chương, chỉ đăng các thông cáo của Nhà
nước hay các chuyện làm ăn buôn bán mà thôi.
2. Truyện Tàu được
ưa thích chứng tỏ một tŕnh độ thấp kém
về văn hóa (thích chuyện hoang đường,
nhảm nhí).
3. Viết sai chính tả v́
chỉ biết nói sao viết vậy do lười
biếng cẩu thả.
4. Văn nôm na, trơn tuột
như tiếng hàng ngày, không chải chuốt văn vẻ
nên không phải là văn chương, hoặc chỉ là
thứ văn chương hạ cấp...
5. Lư luận "cù
lần" con nít, chỉ biết dựa vào thực tế
như thế là thế đó.
6. Thiếu cái gốc
truyền thống văn hóa dân tộc sâu xa, vững
chắc dựa trên nho học "một mảnh
đất ít thấm nhuần nho học".
7. Do đó, khi tiếp xúc
với văn hóa Tây phương, dễ bị mất
gốc, chịu ảnh hưởng nặng nề văn
hóa Pháp.
Như trên đă tŕnh bày,
điều then chốt ở đây là thái độ
trước sự khác biệt. Thay v́ phủ nhận
sự khác biệt, để so sánh hơn kém đưa
tới những đánh giá kể trên, chúng tôi sẽ ghi
nhận sự khác biệt để t́m ra những nguyên
nhân, yếu tố giải thích sự khác biệt trên b́nh diện
nghiên cứu khoa học những mối quan hệ giữa
con người với vùng đất cũ, vùng đất
mới.
Với tinh thần trên, chúng
tôi bắt đầu bằng cách t́m đọc cho bằng
được một số tác phẩm tiểu thuyết,
sử kư, tiểu thuyết lịch sử, báo chí xuất
bản trong thời kỳ này. Qua những ǵ đă
đọc được, mặc dầu c̣n ít, chúng tôi
cũng bắt gặp một số dữ kiện của
thực tế cho phép chúng tôi phác họa những giả thuyết
giải thích.
1. Trước thái độ
bỏ quên bỏ qua v́ khinh thường, phủ nhận,
tại sao người miền Nam không tự khẳng
định trên b́nh diện văn học? Chúng tôi giả
thuyết h́nh như người miền Nam sống văn
chương hiểu như một sinh hoạt sáng tác, hay
thường thức, nhiều hơn là chú ư đến làm
văn học, hiểu như một sinh hoạt nhận
thức, lư luận, phê b́nh văn chương, tổng
hợp thành văn học sử. Báo chí trong Nam thời
kỳ này chỉ thấy quảng cáo sách truyện, rất
ít có bài phê b́nh, lư luận về văn học và càng ít có
sách viết về tác phẩm, tác giả... như ở
miền Bắc. Sở dĩ các tác giả miền Bắc
cùng thời sau này được biết đến là v́ có
những nhà phê b́nh, phỏng vấn, viết bài, viết
sách phê b́nh nhà văn ngay lúc họ c̣n sống và sau khi họ
đă mất. Họ được biết đến sau
này như đối tượng của loại sinh
hoạt văn học. Ở miền Nam, rất ít có
người làm việc phê b́nh, tổng kết văn
học sử. Tại sao? V́ không thể, hay không muốn,
không cần làm?
2. Về h́nh thức sinh
hoạt văn hóa (viết, in, xuất bản, phát hành) sách
báo ở miền Nam không phân biệt văn chương bác
học, văn chương b́nh dân. Có những sự
kiện chứng tỏ sự không phân biệt này: chẳng
hạn ở miền Nam chỉ có một giọng nói cho
cả miền, thôn quê, tỉnh, thành gồm các tầng
lớp đều ưa thích truyện Tàu, cải
lương, vọng cổ... Tiếng lóng không phải
chỉ phổ biến trong một người một
nơi; cũng không phân biệt văn chương với
các sinh hoạt khác: tôn giáo, kinh tế, thương mại,
chính trị... Chẳng hạn sách in từng tập mấy
cắc, vẽ h́nh, bán ở bến xe, bến đ̣,
tiệm tạp hóa xen kẽ nhiều quảng cáo
thương mại. Báo tôn giáo, khoa học, không chuyên
thuần túy tôn giáo, khoa học, nhưng có đủ bài
thuộc các mảng loại khác (văn thơ, thương
mại, kiến thức phổ thông... Chủ trương
không phân biệt này có ư nghĩa ǵ, dựa trên những tiêu
chuẩn nào? Tại sao vậy...
3. Truyện Tàu và văn hóa
Trung Quốc được du nhập, truyền
đạt từ dưới lên trên do cộng đồng
người Minh hương, không phải từ trên xuống
dưới do tầng lớp trí thức làm như ở
miền Bắc. Truyện Tàu được người
miền Nam đặc biệt mê thích, phải chăng v́
phản ảnh những nỗi niềm, ước mơ
của tâm sự người lưu dân? Truyện Tàu
cũng ảnh hưởng sâu đậm vào đời
sống hàng ngày về mặt đạo lư, đến
nỗi đạo thiên chúa cũng phải nghĩ
đến việc sử dụng truyện Tàu làm công
cụ truyền đạo. Sự kiện đó cho
thấy truyện Tàu không thể là thứ truyện
nhảm nhí, mê tín, dị đoan như Phạm Quỳnh
đă đánh giá.
4. Tại sao người
miền Nam không lưu ư tự đề cao hoặc hănh
diện này nọ về địa phương ḿnh
bằng thơ văn như người đất
Thăng Long, đất Phú Xuân, Nghệ Tĩnh
thường làm, nhưng lại không ngần ngại nói sao
viết vậy (dùng từ ngữ địa phương,
phát âm theo địa phương. Vấn đề không
phải là tại sao người Lục tỉnh viết
sai chính tả, mà là dám viết sai chính tả, cứ
viết sai chính tả, một điều mà các vùng khác không
dám làm. Đây là một vấn đề thuộc dân
tộc học và xă hội học. Ngoài ra cũng c̣n vấn
đề: có vấn đề viết sai hay đúng chính
tả, hay chỉ có vấn đề phát âm khác nhau, một
vấn đề thuộc ngữ học?
5. Lối văn nôm na như
tiếng nói hàng ngày tiêu biểu cho một tŕnh độ
sơ khai, ấu trĩ hay cho một sự trở về
cái chân chất, cái sống thực sau khi đă trở thành
quá qui ước, khách sáo, h́nh thức, mặc dầu
rất chải chuốt, nhưng là giả tạo? Nh́n
vấn đề trong viễn tượng diễn tiến
của lời văn qua các giai đoạn: câu nói học
câu văn, câu văn học câu nói sẽ thấy lối
văn nôm na, phải chăng phản ảnh một lựa
chọn có ư thức, của những người thừa
khả năng viết văn chải chuốt, nhưng
tự ư tự nguyện phủ nhận nó để
trở lại cái chân chất, sống thực?
6. Diễn tiến về lư
luận của con người trong lịch sử cũng
có những giai đoạn và những trở về một
giai đoạn đă qua dưới những h́nh thức,
dạng mới... Vậy lối lư luận của
người miền Nam có phải tiêu biểu cho một
giai đoạn ấu trĩ sơ khai hay chẳng qua
cũng là sự trở lại một cách có ư thức, cái
tiền luận lư (prélogique), cái vong luận (paralogique)?
7. Dựa vào một số
sự kiện biểu lộ nho học ở vùng
đất mới, t́m hiểu xem nho học đă
được quan niệm thế nào đối với
người lưu dân, tại sao nho học lại
được coi như một chỗ dựa,
điểm tựa để chống lại sự du
nhập và lợi dụng chính trị văn hóa Tây
phương.
8. Miền Nam đă tiếp
nhận thế nào văn hóa Pháp vào thời kỳ
đầu Pháp áp đặt thuộc địa ở Nam
Kỳ. Có phải là bị ảnh hưởng nặng
nề đến chỗ mất gốc như Phạm
Quỳnh nhận xét hay chẳng qua nhận xét của
Phạm Quỳnh chỉ là cái nh́n hời hợt từ bên
ngoài. Xét về mặt chính trị trước chính sách
đồng hóa về văn hóa của người Pháp,
người miền Nam có thái độ ra sao? Và xét về
phương diện địa lư chính trị, con
người miền Nam thích hợp hay dị ứng
(allergique) với văn hóa Tây phương loại văn
hóa các nước la tinh?
Cũng xét về mặt
địa lư chính trị, người miền Nam nh́n
lịch sử Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng
từ miền Nam như thế nào?
Thái độ của
người miền Nam đối với nhà Nguyễn, Tây
Sơn, đặc biệt đối với danh nhân nhà
Nguyễn là thế nào? Tại sao vào đầu thế
kỷ XX lại xuất hiện rất sớm những
sách sử kư, tiểu thuyết lịch sử, tiêu biểu,
một mối quan tâm đặc biệt về lịch
sử Việt Nam, về sự thống nhất
đất nước? Những dữ kiện này bắt
buộc phải t́m hiểu và xác định vai tṛ lịch
sử người trí thức miền Nam thời kỳ này
là thế nào?
Đó là những vấn
đề mà chúng tôi t́m hiểu đưa ra giả
thuyết giải thích mang tính chất gợi ư như
những cố gắng t́m hiểu bước đầu
mà thôi.
Đă hẳn, những vấn
đề nêu lên không đặt ra trên lănh vực thuần
túy văn học nhưng vượt văn học,
bước vào các lănh vực thuộc ngữ học, xă
hội học, dân tộc học, triết học văn
hóa... Đây là một công tŕnh nghiên cứu có tính cách liên
ngành (interdisciplinaire) mà rơ ràng một ḿnh chúng tôi không thể
làm được một cách nghiêm chỉnh. Do đó
những nhận xét, giả thuyết nêu ra càng mang tính
chất gợi ư đ̣i hỏi sự tham gia cộng tác
của những nhà chuyên môn, để biến công tŕnh này
thành một công tŕnh tập thể.
Sau cùng, chúng tôi muốn thưa
với người đọc:
Xác định rơ những lănh
vực và b́nh diện nhằm t́m hiểu vấn đề,
chúng tôi hy vọng người đọc không hiểu
lầm những nhận xét đưa ra mang tính chất phê
b́nh đạo đức hay cá nhân ai, dù những sơ
xuất của chúng tôi có thể làm cho có cảm
tưởng đó, nhưng ư định của chúng tôi là
muốn t́m cái ǵ sâu hơn những ư đồ cá nhân,
những lựa chọn có ư thức, một cái ǵ có tính
tập thể, vô thức, quy định chi phối
những cảm quan, lựa chọn trên b́nh diện ư
thức... Nói cho đúng những suy nghĩ nhận xét
đưa ra cũng xuất phát từ một tự xét
ḿnh, tự kiểm điểm. Chúng tôi sống ở
miền Nam trên 30 năm rồi, đă làm văn hóa theo
một quan niệm "bác học" và đánh giá văn
chương miền Nam chẳng khác ǵ một Vũ
Ngọc Phan, Phạm Thế Ngữ. Chẳng hạn chúng
tôi rất ít để ư đến cải lương,
không thèm đọc Hồ Biểu Chánh hay báo "Saigon
mới" của bà Bút Trà v.v... mặc dầu đó là
tờ báo bán chạy nhất. Chúng tôi đă phê phán nghiêm
khắc Trương Vĩnh Kư và đưa đẩy
một số người khác, kể cả người
gốc miền Nam vào việc phê phán đó (9). Bây giờ
nh́n lại, chúng tôi thấy phê phán đó đúng nhưng
không thực, nghĩa là chỉ hợp với luận lư nào
đó, chưa phản ánh được hết thực
tế. Dĩ nhiên đă có những hoàn cảnh, nguyên nhân
đưa chúng tôi tới chỗ dần dần nhận ra
lối nh́n chật hẹp, lệch lạc của ḿnh, v́
những thiên kiến xă hội mà chúng tôi đă tiếp
nhận.
Nói tóm lại, trong công tŕnh dài
hạn này, chúng tôi đi từ sự kiện văn
học (báo chí, sử kư, văn xuôi tiểu thuyết)
để t́m hiểu con người vùng đồng bằng
sông Cửu Long, Đồng Nai về phương diện
giao lưu văn hóa giữa hai miền Nam Bắc và giữa
văn hóa truyền thống Việt Nam và các văn hóa
nước ngoài trong viễn tượng những quy
định địa lư chính trị.
--------------
Chú thích
(1) Theo bản của Trung tâm
học liệu xuất bản, Saigon 1968 trang 425.
(2) Evolution de la littérature et de la
pensée vietnamienne depuis l'arrivée des français jusqu'à nos jours (1865-1946)
Editions Tao Đàn Huế. Imp. de l'Union Nguyễn Văn
Của, SAIGON 1949.
(3) Collection UNESCO. Introduction aux
littératures orientales. G. Maisonneuve et Larose. Paris 1969. (4) Quỳnh
Lâm, hiên văn nghệ, xuất bản, Saigon, 1970 (5)
Tiếng cụ ở Bắc như tiếng Bác trong Nam. (6)
Văn - (Saigon) Tưởng niệm Hồ Biểu Chánh
số 80 - 15-4-1967. (7) Không phải những học giả
khác ở Bắc Hà đều đánh giá Trương
Vĩnh Kư như Phạm Quỳnh, không kể Lê Thanh đă
vào Saigon để t́m tài liệu biên soạn một
cuốn về TVK (Phổ thông chuyên san, Tân Dân xuất
bản, Hà Nội 1943) chỉ cần nhắc tới bài biên
khảo dài, rất nghiêm túc và khách quan, khoa học của
cụ Nguyễn Văn Tố mà cho đến nay rất ít
người biết đến đăng trong Bulletin de la
Société de l'enseignement mutuel au Tonkin, Tome XVII. 1937. Chỉ
những người cỡ cụ Tố mới có khả
năng phê b́nh Trương Vĩnh Kư về nho học,
văn học cổ Việt Nam (chữ nho, chữ nôm,
quốc ngữ) về mặt chú thích hiệu đính,
về ngôn ngữ học... Bây giờ chúng ta có làm, mỗi
người có thể chỉ làm được một
mặt, và có lẽ không hơn ǵ cụ Tố. (8) Tam Lang,
"cuộc đời làm văn làm báo" Nghiên cứu
Văn học (Saigon), số 4-6-1971, trang 35. (8) Thực ra,
ngay mảng văn học ở miền Bắc thời
kỳ này, nhiều tác giả cũng bị bỏ quên, như
trường hợp tiểu thuyết trinh thám: không
phải đến Phạm Cao Củng, Thế Lữ
mới có tiểu thuyết trinh thám, mà đă có những tác
giả đi trước Thế Lữ, Phạm Cao
Củng từ 10 năm trước như: Nguyễn
Trọng Dương "Chết sống thuyền
quyên", truyện trinh thám, Hanoi Imp. Nghiêm Hàn 1923 154 trang.
Phải chăng v́ người ta đă chỉ căn
cứ vào Vũ Ngọc Phan, rồi người nọ
cứ nói theo người kia, thế thôi, không chịu
đi t́m những nguồn khác? (9) Thanh niên số 32 ngày
22-4-1944 Saigon do ông Huỳnh Tấn Phát chủ nhiệm. (10)
Xem "Chữ, văn quốc ngữ" Nguyễn Văn
Trung; Cuốn sổ b́nh sanh của Trương Vĩnh Kư
của Nguyễn Sinh Duy, Phạm Lon.